Năm 2010 tiếp tục là một năm thăng trầm của thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam. Các nhà đầu tư đã rút ra những bài học gì khi bước sang năm mới?
1. "Lạm bàn" chính sách góp phần khuyếch đại hiệu ứng tâm lý của thị trường.
Ảnh hưởng của môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh tế thế giới đến TTCK trong nước, vốn đã được kiểm chứng trong những giai đoạn thăng trầm của năm 2008 và 2009, lại tiếp tục giành được sự quan tâm đặc biệt của thị trường trong năm 2010 vừa qua. Tuy nhiên, khác với những năm trước, tác động ảnh hưởng này đến tâm lý nhà đầu tư trong năm 2010 đã được khuyếch đại lên nhiều bởi việc nở rộ các hoạt động "luận bàn hay đúng hơn là lạm bàn về chính sách".
Cùng với những yếu tố ngoại cảnh khác, việc "lạm bàn" sôi nổi về CPI, về khủng hoảng nợ của Châu Âu, về dòng tiền và đặc biệt là các biện pháp điều hành chính sách tiền tệ (như về Thông tư 13, Thông tư 19,..) đã tạo ra những con sóng tăng hoặc giảm mạnh kéo dài gần như liên tục qua nhiều phiên.
Lời bàn: Năm 2011 là năm khởi đầu của các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội (5 năm & 10 năm), là năm đánh dấu vị thế mới của Việt nam (từ vị thế nước nghèo bước vào nhóm các nước có thu nhập trung bình),.. do vậy vấn đề "Tạo nền tảng vững chắc" chắc sẽ là ưu tiên được lựa chọn và bàn thảo nhiều trong các chương trình nghị sự của năm.
Mặt khác, năm 2011 cũng là năm có hiệu lực thi hành của hàng loạt văn bản Luật đã được ban hành trong năm 2010 (Luật Ngân hàng, Luật các tổ chức tín dụng, Luật chứng khoán sửa đổi,...), do vậy sẽ cần phải xây dựng và ban hành hành loạt các Nghị định, Thông tư hướng dẫn,.. cho các văn bản luật đó. Những sự kiện và thay đổi đó sẽ lại tạo ra chất liệu cho các cuộc lạm bàn chính sách tiếp tục thi triển trong năm tới. Để tự bảo vệ mình trước những nhiễu loạn của việc "lạm bàn" này, nhà đầu tư cần phải lưu tâm đến cơ sở luận cứ của những lập luận, nhận định và đánh giá đó.
2. Triển vọng lợi nhuận của doanh nghiệp quyết định xu hướng giá của cổ phiếu.
"Cùng dưới gầm trời nam", cùng hoạt động trong một môi trường kinh tế vĩ mô như nhau, thế nhưng mức giảm của chỉ số VNIndex và HNX-Index trong năm 2010 lại khác nhau quá xa (so với 31/12/2009, VNIndex đóng cửa năm 2010 giảm 2% và HNX-Index giảm 32%). Vì sao lại như vậy ? vì hoạt động thao túng bóp méo chỉ số cũng có, nhưng chủ yếu là do khả năng tạo lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết tại HOSE tốt hơn ở HNX.
Lời bàn: Cho đến thời điểm hiện nay, trên cả 02 sàn (HOSE & HNX) có 646 công ty niêm yết và sang năm 2011 danh sách các công ty niêm yết sẽ tiếp tục được kéo dài thêm (dự kiến sàn HNX sẽ có thêm khoảng 100 công ty). Tìm kiếm được những công ty tốt để tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn trước khi ra quyết định mua bán, trong một "rừng" công ty như vậy thực là khó đối với nhà đầu tư.
Đây chính là lúc nhà đầu tư cần đến các công cụ sàng lọc, phân loại cổ phiếu dựa trên các chỉ tiêu tài chính cơ bản phù hợp của quá khứ, đến dịch vụ của các tổ chức cung ứng dịch vụ thông tin đầu tư chứng khoán, và ngược lại các tổ chức này cũng phải chứng minh và thuyết phục được thị trường về tính chuyên nghiệp và chất lượng của dịch vụ được cung ứng.
Các doanh nghiệp và cổ phiếu được sàng lọc phân loại, trước khi đi tới quyết định mua bán, cần phải được tiếp tục nghiên cứu và đánh giá sâu hơn về triển vọng lợi nhuận sắp tới. Dùng phương pháp nào để phân tích và đánh giá triển vọng lợi nhuận của công ty, cổ phiếu ? Câu trả lời là: phải tùy thuộc vào đối tượng bị đánh giá. Do vậy, việc trước tiên là phải hiểu được công ty, hiểu được xu hướng vận động của thị trường, hiểu được thời thế. "Biết người" là đã đảm bảo được 50% thắng lợi.
3. Quản trị rủi ro cần phải được tính đến trước khi quyết định "dùng margin" hay "cấp margin"
Mặc dù chưa được thừa nhận chính thức về mặt pháp lý, nhưng việc cung cấp và sử dụng dịch vụ margin dưới hình thức "Hợp đồng hợp tác đầu tư" giữa công ty chứng khoán và nhà đầu tư đã nảy nở từ giữa năm 2009 và phát triển mạnh trong năm 2010.
Qua số liệu BCTC cho thấy, ở một số công ty chứng khoán giá trị Tài khoản "Hợp đồng hợp tác đầu tư" chiếm khoảng 20% - 30% tổng giá trị tài sản và khoảng 20% - 30% tổng doanh thu là do hoạt động này mang lại.
Đối với người sử dụng "Tài khoản margin", lợi nhuận mang lại sẽ tăng lên nhiều lần nếu khoản đầu tư có lãi. Tuy nhiên, hoạt động này cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro liên quan đến từng giai đoạn của thị trường, đến từng cổ phiếu và đến từng khách hàng. Việc không quan tâm đúng mức đến công tác quản trị rủi ro đã đặt "người dùng margin" và "người cấp margin" vào tình thế bi đát như thị trường đã được chứng kiến trong năm 2010 vừa qua.
Lời bàn: Có kinh doanh là có vay nợ, do vậy hoạt động cung ứng và sử dụng dịch vụ "Đòn bảy tài chính" sẽ còn có đất để phát triển. Lợi ích của hoạt động này (đối với nhà đầu tư, đối với tổ chức cung ứng dịch vụ và đối với thị trường) đã quá rõ, vấn đề còn lại là từng thành viên tham gia phải tìm cách để giảm thiểu đến mức thấp nhất tổn thất mà hoạt động này có thể gây ra.
Đối với nhà đầu tư cần phải: (i) xác lập "Điểm tựa", gồm xác định được "thời thế "của thị trường, hiểu được "triển vọng lợi nhuận" của danh mục cổ phiếu được tài trợ bằng vốn vay; (ii) xác lập được kỳ vọng lợi nhuận mong muốn (về mặt thời gian và mức lợi nhuận) và nguồn vốn tự có có thể huy động; (iii) xác lập tỷ lệ "đòn bảy" cần sử dụng, mức "dự phòng" về nguồn lực và "đường rút" khi cần thiết. Kỷ luật đó cần phải được tuân thủ.
4. Hoạt động thao túng trên thị trường
Cùng với sự phát triển của thị trường và thiếu những công cụ giám sát hữu hiệu của các cơ quan quản lý, hoạt động thao túng trên TTCK nước ta trong năm 2010 đã có sự thay đổi mạnh mẽ về diện (không chỉ dừng lại ở một vài cổ phiếu đơn lẻ, mà còn đối với cả chỉ số chung của thị trường), về mức độ tinh vi (không chỉ đơn thuần thông qua hoạt động giao dịch trực tiếp trên thị trường, mà còn thông qua hoạt động truyền bá tin đồn, thông qua các bản phân tích và nhận định về triển vọng lợi nhuận của doanh nghiệp, thông qua các tuyên bố hùng hồn với những con số rất ấn tượng nhưng lại rất khó kiểm chứng), về phạm vi lôi cuốn (không chỉ lôi cuốn các nhà đầu tư tham gia, mà còn lôi cuốn cả các công ty chứng khoán và các thành viên chủ chốt của các công ty niêm yết).
Kết hợp với dịch vụ cho vay (bằng tiền hoặc bằng chứng khoán) và việc "lạm bàn" chính sách ngày càng nở rộ, hoạt động thao túng trong năm 2010 đã ảnh hưởng nhiều đến "túi tiền" của nhiều người, làm cho thị trường vốn đã khó đoán định càng trở nên khó đoán định hơn và sự trồi sụt lên xuống thường diễn ra với quán tính mạnh hơn một khi "cái cớ" để "đánh lên" hoặc "đánh xuống" xuất hiện hoặc mất đi hiệu lực.
Lời bàn: Loại bỏ hoàn toàn hoạt động thao túng trên TTCK là một điều không tưởng. Các biện pháp giám sát chỉ có tác dụng làm giảm thiểu và hạn chế đến mức thấp nhất tác động tiêu cực của hoạt động này mà thôi. Do vậy, tỉnh táo khi tiếp nhận thông tin và tránh các hoạt động giao dịch theo kiểu "kỵ sĩ không đầu" là cách tự bảo vệ mình hiệu quả nhất trong một thị trường với các hoạt động thao túng ngày càng tinh vi hơn.
5. Hoạt động phát hành cổ phiếu theo kiểu "tận thu"
"Tận thu" có lẽ là từ phù hợp nhất để nói về hoạt động phát hành cổ phiếu có thu tiền trong năm 2010. Tính đến 20/12/2010, có 305 công ty trên cả 02 sàn (trong số 376 công ty đã đăng ký phát hành trong năm 2010) đã phát hành thành công, với 5.726 triệu cổ phiếu (trong số 8.108 triệu cổ phiếu đã đăng ký phát hành) đã được phát hành ra thị trường. Trong số đó lượng cổ phiếu phát hành có thu tiền (cho cổ đông hiện hữu, cho cán bộ công nhân viên, phát hành riêng lẻ) chiếm khoảng 67%.
Đấy là về mặt qui mô, còn về mặt phương thức phát hành thì rất uyển chuyển: khó phát hành đại chúng thì lại chuyển sang phát hành riêng lẻ, khó bán giá cao thì chuyển thành theo mệnh giá, khó thành công thì hủy bỏ hoặc hoãn lại,..Mục đích của đợt phát hành và kế hoạch sử dụng vốn của đợt phát hành còn mang nặng tính đại khái.
So với bộ hồ sơ vay vốn ngân hàng và quá trình xét duyệt của nó, thì bộ hồ sơ phát hành cổ phiếu ra công chúng và quá trình xét duyệt cấp phép phát hành quá là dễ dãi, mặc dù khả năng thu nợ của ngân hàng còn được đảm bảo bằng các khoản thế chấp, chứ với cổ đông chỉ có bằng "niềm tin và kỳ vọng" vào ban lãnh đạo công ty phát hành. Thị trường đã nhận ra điều đó, bằng chứng là sự sụt giảm giá kéo dài của cổ phiếu cho đến trước ngày chốt danh sách cổ đông (đây là điều ngược lại so với sự hồ hởi của những năm trước).
Theo khảo sát biến động giá cổ phiếu của các công ty đã phát hành thêm cho cổ đông hiện hữ trong năm 2010 của StoxPlus, 40.7% mã bị giảm giá trong vòng 02 tuần trước thời điểm chốt danh sách cổ đông.
Lời bàn: Cùng với quá trình cải tổ và hoàn thiện dần hệ thống ngân hàng thương mại theo hướng tập trung vào vai trò kênh huy động vốn ngắn hạn cho nền kinh tế, thì vai trò kênh huy động vốn trung và dài hạn của TTCK đối với doanh nghiệp ngày càng được củng cố. Các doanh nghiệp ngày càng hướng tới TTCK để tìm kiếm nguồn vốn trung và dài hạn cho nhu cầu đầu tư phát triển của mình và hoạt động phát hành ngày càng nở rộ. Huy động vốn qua TTCK được hiểu một cách đơn giản là DN bán ra "lời hứa" dưới dạng cổ phiếu và trái phiếu cho nhà đầu tư để thu tiền về.
Do vậy, để đặt đúng chỗ đồng vốn của mình, thị trường cần phải quan tâm và giám sát chặt chẽ hơn về hoạt động hiện tại của doanh nghiệp, về lộ trình phát triển hợp lý của doanh nghiệp - đó là những cái tạo ra nhu cầu về huy động vốn của doanh nghiệp, cái đảm bảo "lời hứa" của doanh nghiệp khi phát hành.
Hãy đứng vững trên đôi chân của mình ,dù cho bạn không thể thực hiện nổi những bước nhảy thì ít ra bạn cũng bước được những bước chậm rãi......
Tìm kiếm
Thứ Tư, 19 tháng 1, 2011
Lợi ích quan trọng cho cả doanh nghiệp, quốc gia từ việc xếp hạng doanh nghiệp
Việc xếp hạng doanh nghiệp mang lại một số lợi ích quan trọng cho cả doanh nghiệp lẫn quốc gia.
Về phía doanh nghiệp, thứ nhất, được vinh danh trong các bảng xếp hạng không chỉ tạo ra sự khích lệ tinh thần và niềm tự hào, mà còn tăng thêm uy tín và sức mạnh cho họ trong quá trình lựa chọn đối tác cũng như tác động tới chính phủ.
Ở Mỹ, các doanh nghiệp được vinh danh trong Fortune 500 có vai trò và ảnh hưởng lớn đối với các chính sách. Bằng chứng điển hình nhất là CEO của Goldman Sachs (trong danh sách Fortune 500) Henry M Paulson đã được bổ nhiệm làm Bộ trưởng tài chính Hoa Kỳ.
Thứ hai, danh sách Fortune 500 còn giúp doanh nghiệp thấy được thị trường đang thay đổi thế nào và quá trình thích nghi của các doanh nghiệp khác ra sao. Khi nhu cầu của khách hàng thay đổi, các công ty phải thích nghi để đáp ứng nhu cầu hoặc mất vị trí trong bảng xếp hạng vào tay đối thủ cạnh tranh khác.
Pepsi là ví dụ điển hình của một công ty tìm kiếm cách thức đáp ứng nhu cầu thay đổi của khách hàng. Là một trong những nhà sản xuất các đồ ăn vặt nhiều nhất, giờ đây công ty chuyển sang sản xuất những loại đồ ăn lành mạnh cho sức khỏe hơn. Việc họ vẫn được thăng hạng trong danh sách 500 cho các công ty khác cùng ngành thấy họ cũng cần chuyển theo hướng thị trường.
Về phía quốc gia, thứ nhất, bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất khẳng định sức mạnh kinh tế của quốc gia. Người ta ước tính, năm 2005, lợi nhuận của tất cả các công ty trong danh sách Fortune500 của Mỹ là 610 tỉ đôla, đồng nghĩa với việc lợi nhuận ấy đủ mua lại toàn bộ tổng sản lượng kinh tế của cả 3 quốc gia Brazil, India và Hàn Quốc hợp lợi trong năm đó.
Ấn tượng hơn, tổng doanh thu của Fortune 500 của riêng nước Mỹ là 9,1 nghìn tỉ đôla Mỹ. Nếu danh sách này được coi như một quốc gia, đó sẽ là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, lớn hơn cả nền kinh tế Anh Quốc, Đức, Pháp và Nhật Bản hợp lại.
Thứ hai, không chỉ đơn thuần liệt kê doanh sách những công ty có doanh thu lớn nhất, bảng xếp hạng 500 còn giúp những nhà hoạch định chính sách có cái nhìn toàn cảnh về kinh tế quốc gia, về việc tiền đang được chảy vào đâu và như thế nào vào những ngành công nghiệp mới.
Ví dụ, những năm 70, việc xây dựng nhiều đường cao tốc liên bang đã thay đổi cách thức người Mỹ làm kinh doanh, vận tải hàng hóa, đi du lịch, mua sắm và nơi họ sinh sống. Nhiều công ty xây dựng đã tận dụng cơ hội này triệt để để tăng doanh thu, chẳng hạn những công ty thực hiện việc xây dựng 42 000 dặm đường cao tốc từ Lose Angeles đến New Jersey đã ngay lập tức được gia nhập danh sách Fortune 500.
Ở Việt Nam, VNR500 đã xây dựng được uy tín và trở thành danh hiệu có ý nghĩa với doanh nghiệp.
Những chuỗi cửa hàng bán lẻ như McDonald's hay chuỗi khách sạn như Holiday Inn đã tận dụng những đường cao tốc liên bang này để mở rộng hệ thống của mình, thay đổi cách sống của người Mỹ và thu được lợi nhuận khổng lồ từ việc đó.
Những con đường mới cũng tạo ra ảnh hưởng sâu đậm lên các tập đoàn ở miền Nam nước Mỹ với những tên tuổi như Coca-Cola, Wal-Mart, Home Depot và Fedex, các công ty này có thể phát triển và thành công theo những cách thức chưa từng có trước kia. Hệ thống đường mới cũng đã tạo ra General Motors, một trong những tên tuổi lớn nhất trong bảng xếp hạng.
Nhìn vào sự hoán đổi liên tục trong danh sách 500 có thể thấy sự dịch chuyển của toàn bộ nền kinh tế quốc gia, điều đó rất có lợi cho việc hoạch định các chiến lược và chính sách kinh tế vĩ mô.
Ở Việt Nam, việc công bố bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất (VNR500) theo mô hình Fortune của Mỹ là cần thiết và khá phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam ở thời điểm hiện tại. Sự đơn giản và dễ đo lường của mô hình sẽ tạo điều kiện cho tính minh bạch và khách quan, hai tiêu chí quan trọng bậc nhất của một bảng xếp hạng uy tín.
Về phía doanh nghiệp, thứ nhất, được vinh danh trong các bảng xếp hạng không chỉ tạo ra sự khích lệ tinh thần và niềm tự hào, mà còn tăng thêm uy tín và sức mạnh cho họ trong quá trình lựa chọn đối tác cũng như tác động tới chính phủ.
Ở Mỹ, các doanh nghiệp được vinh danh trong Fortune 500 có vai trò và ảnh hưởng lớn đối với các chính sách. Bằng chứng điển hình nhất là CEO của Goldman Sachs (trong danh sách Fortune 500) Henry M Paulson đã được bổ nhiệm làm Bộ trưởng tài chính Hoa Kỳ.
Thứ hai, danh sách Fortune 500 còn giúp doanh nghiệp thấy được thị trường đang thay đổi thế nào và quá trình thích nghi của các doanh nghiệp khác ra sao. Khi nhu cầu của khách hàng thay đổi, các công ty phải thích nghi để đáp ứng nhu cầu hoặc mất vị trí trong bảng xếp hạng vào tay đối thủ cạnh tranh khác.
Pepsi là ví dụ điển hình của một công ty tìm kiếm cách thức đáp ứng nhu cầu thay đổi của khách hàng. Là một trong những nhà sản xuất các đồ ăn vặt nhiều nhất, giờ đây công ty chuyển sang sản xuất những loại đồ ăn lành mạnh cho sức khỏe hơn. Việc họ vẫn được thăng hạng trong danh sách 500 cho các công ty khác cùng ngành thấy họ cũng cần chuyển theo hướng thị trường.
Về phía quốc gia, thứ nhất, bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất khẳng định sức mạnh kinh tế của quốc gia. Người ta ước tính, năm 2005, lợi nhuận của tất cả các công ty trong danh sách Fortune500 của Mỹ là 610 tỉ đôla, đồng nghĩa với việc lợi nhuận ấy đủ mua lại toàn bộ tổng sản lượng kinh tế của cả 3 quốc gia Brazil, India và Hàn Quốc hợp lợi trong năm đó.
Ấn tượng hơn, tổng doanh thu của Fortune 500 của riêng nước Mỹ là 9,1 nghìn tỉ đôla Mỹ. Nếu danh sách này được coi như một quốc gia, đó sẽ là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, lớn hơn cả nền kinh tế Anh Quốc, Đức, Pháp và Nhật Bản hợp lại.
Thứ hai, không chỉ đơn thuần liệt kê doanh sách những công ty có doanh thu lớn nhất, bảng xếp hạng 500 còn giúp những nhà hoạch định chính sách có cái nhìn toàn cảnh về kinh tế quốc gia, về việc tiền đang được chảy vào đâu và như thế nào vào những ngành công nghiệp mới.
Ví dụ, những năm 70, việc xây dựng nhiều đường cao tốc liên bang đã thay đổi cách thức người Mỹ làm kinh doanh, vận tải hàng hóa, đi du lịch, mua sắm và nơi họ sinh sống. Nhiều công ty xây dựng đã tận dụng cơ hội này triệt để để tăng doanh thu, chẳng hạn những công ty thực hiện việc xây dựng 42 000 dặm đường cao tốc từ Lose Angeles đến New Jersey đã ngay lập tức được gia nhập danh sách Fortune 500.
Ở Việt Nam, VNR500 đã xây dựng được uy tín và trở thành danh hiệu có ý nghĩa với doanh nghiệp.
Những chuỗi cửa hàng bán lẻ như McDonald's hay chuỗi khách sạn như Holiday Inn đã tận dụng những đường cao tốc liên bang này để mở rộng hệ thống của mình, thay đổi cách sống của người Mỹ và thu được lợi nhuận khổng lồ từ việc đó.
Những con đường mới cũng tạo ra ảnh hưởng sâu đậm lên các tập đoàn ở miền Nam nước Mỹ với những tên tuổi như Coca-Cola, Wal-Mart, Home Depot và Fedex, các công ty này có thể phát triển và thành công theo những cách thức chưa từng có trước kia. Hệ thống đường mới cũng đã tạo ra General Motors, một trong những tên tuổi lớn nhất trong bảng xếp hạng.
Nhìn vào sự hoán đổi liên tục trong danh sách 500 có thể thấy sự dịch chuyển của toàn bộ nền kinh tế quốc gia, điều đó rất có lợi cho việc hoạch định các chiến lược và chính sách kinh tế vĩ mô.
Ở Việt Nam, việc công bố bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp lớn nhất (VNR500) theo mô hình Fortune của Mỹ là cần thiết và khá phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam ở thời điểm hiện tại. Sự đơn giản và dễ đo lường của mô hình sẽ tạo điều kiện cho tính minh bạch và khách quan, hai tiêu chí quan trọng bậc nhất của một bảng xếp hạng uy tín.
Giảm lãi suất: Tín hiệu mong manh
(VEF) - DN và cả nền kinh tế đang mong mỏi lãi suất giảm. Trên thị trường, những tín hiệu bước đầu đã xuất hiện. Tuy nhiên, để có thể giảm mạnh lãi suất trong quý là điều khó hiện thực trong quý I/2010.
Tín hiệu chưa đủ mạnh
Sau khi Ngân hàng Nhà nước ra tay chấn chỉnh cơn "sốc" lãi suất hồi tháng 12/2010, lãi suất đã có một bước ổn định và giảm mạnh. Từ trên 17% đã rút về đồng thuận và công khai ở mức 14%.
Từ đó đến nay, dù các ngân hàng có tăng cường khuyến mãi và các hình thức khác để tăng lợi ích cho khách hàng nhằm đẩy lãi suất thực lên cao nhằm huy động vốn, nhưng mặt bằng lãi suất vẫn được giữ ổn định ở mức 14%.
Những diễn biến mới nhất trên thị trường cho thấy, sau thời kỳ căng thẳng về thanh khoản khiến các ngân hàng đẩy lãi suất tất cả các kỳ hạn bằng nhau thì nay tại một số ngân hàng "trần" 14%/năm đã rút dần và chỉ tập trung phổ biến ở các kỳ hạn ngắn 1-3 tháng, các kỳ hạn dài hơn chỉ khoảng từ 12-13%/năm.
Điều này được các chuyên gia nhận xét, biểu hiện này cho thấy các ngân hàng đã tính đến rủi ro chi phí ở các kỳ hạn dài trước khả năng lãi suất sẽ giảm dần thời gian tới. Có thể, chỉ sau thời kỳ căng thẳng giáp Tết, dù lãi suất chưa giảm ngay nhưng những bất cập trên bảng lãi suất sẽ chấm dứt và đường cong lãi suất hợp lý sẽ xác lập.
Trong khi đó, trên thị trường liên ngân hàng, những tuần gần đây, những biến động về lãi suất đã chứng tỏ những tín hiệu mới. Theo thông lệ, thời điểm thanh toán căng thẳng cuối năm, các ngân hàng thường vay mượn nhiều trên thị trường liên ngân hàng để giải quyết những khó khăn ngắn hạn, đẩy lãi suất trên thị trường lên cao.
Tuy nhiên, trong những tuần cuối 2010 và đầu 2011, lãi suất vẫn tương đối ổn định và đã có những dấu hiệu cho thấy sự tích cực trong thanh khoản của các ngân hàng.
Tổng hợp giao dịch trên thị trường này, lãi suất bình quân trong tuần tính đến 7/1/2011 có xu hướng giảm nhẹ ở một số kỳ hạn. Nếu lãi suất giao dịch bằng VND bình quân qua đêm dao động trong biên độ khá rộng, từ 10% đến gần 12%/năm qua các ngày, thì lãi suất ở các kỳ hạn dài đang giảm đáng kể.
Cụ thể, nếu như trong tháng 12/2010, lãi suất giao dịch bình quân bằng VND các kỳ hạn 6 và 12 tháng ghi nhận những mức cao tới 13,5%/năm. Nhưng trong tuần đầu năm 2011, lãi suất giao dịch bình quân ở những kỳ hạn dài này đã giảm khá mạnh, cùng xuống dưới 13%/năm, tuần qua bình quân ở 12,8%/năm; riêng kỳ hạn 12 tháng có dấu hiệu giảm mạnh khi những ngày gần đây đã xuống dưới mốc 12% và ngày 7/1 chỉ còn 11,6%/năm. Dù đây mới chỉ là diễn biến ngắn nhưng cũng đã mang lại những tín hiệu hy vọng về giảm lãi suất.
Những tín hiệu này, cộng với định hướng của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất, càng khẳng định xu hướng giảm lãi suất là khá rõ. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, trong tất cả các cuộc làm việc với các ngân hàng và các cơ quan lãnh đạo cao hơn, đều nói rằng cơ quan này sẽ có các giải pháp để giảm dần lãi suất cho vay khi lạm phát có dấu hiệu hạ nhiệt.
Ông Lê Xuân Nghĩa - Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, cho rằng, với diễn biến hiện nay cùng với việc triển khai quyết liệt các giải pháp sau quý I/2011, mặt bằng lãi suất sẽ giảm.
Tuy nhiên, theo tính toán sơ bộ của các chuyên gia, mục tiêu lạm phát năm nay không quá 7%; như vậy lãi suất huy động không thể quá 10-12%/năm. Và những tín hiệu hiện nay vẫn chỉ mới là tia hy vọng chưa đủ mạnh để sớm có thể đi đến giảm lãi suất.
Lực cản và hỗ trợ
Không lạc quan bằng nhưng một số chuyên gia từ các công ty chứng khoán dự đoán, có thể lãi suất trong quý I/2011 sẽ vẫn ở mức cao như cuối năm 2010 nhưng từ quý II, lãi suất huy động và cho vay sẽ giảm dần.
Hội đồng Tư vấn tiền tệ cũng nhận định, quý I/2011, lãi suất sẽ là 14-17%/năm (huy động - cho vay); sang đến quý II và III/2011 giảm xuống còn 12-14,5%/năm. Tuy nhiên, từ mức huy động 14% cho vay 17-18% để giảm dần xuống 12% huy động và 14% cho vay như kỳ vọng hẳn còn một lộ trình rất dài.
Lực cản lớn nhất hiện nay đối với các ngân hàng trong việc tính toán lãi suất, bên cạnh sự căng thẳng thanh khoản ngắn hạn thì lạm phát đang là yếu tố khiến nhiều ngân hàng phải cân nhắc. Lạm phát 2010 đã ở mức hai con số. Năm 2011, lạm phát được đặt mục tiêu 7% nhưng trong quý 1/2011 là những tháng trong chu kỳ tăng giá nên lạm phát chưa thể giảm ngay.
Trong khi đó, dù chính phủ đặt mục tiêu lạm phát 7% nhưng đi kèm đó là tăng trường GDP 7,75% ắt hẳn sẽ kéo theo nhiều chính sách hỗ trợ tăng trưởng. Trong một nền kinh tế tăng trưởng dựa vào đầu tư, nhất là khi hiệu quả đầu tư (ICOR) còn cao thì vẫn còn tiềm ẩn những nguy cơ.
Trong khi đó, những hệ lụy từ chính sách điều hành 2010 và làn sóng tăng giá trong năm 2011 khiến lãi suất chưa thể giảm ngay và ngân hàng còn phải cảnh giác.
Một yếu tố khác mang tính chất thị trường không thể bỏ qua là thanh khoản và cạnh tranh vốn giữa các ngân hàng. Các ngân hàng Việt Nam vẫn sống nhờ vào huy động và cho vay. Với một cơ cấu nguồn vốn huy động có vốn ngắn hạn chiếm phần lớn, còn nhu cầu cho vay trung dài hạn khiến các ngân hàng rất dễ rơi vào căng thẳng thanh khoản và buộc phải đẩy lãi suất lên cao để cạnh tranh thu hút và giữ nguồn vốn. Lãi suất ngân hàng vẫn phải "giữ chân" vốn ngắn hạn.
Thực tế, với nguồn vốn huy động thiếu ổn định, dễ dịch chuyển... đã nhiều lần khiến các ngân hàng lao vào các cuộc đua lãi khiến cơ quan quản lý không lường trước và phải sử dụng các biện pháp hành chính cấp bách để chấn chỉnh như cuối 2010. Áp lực huy động vốn khiến cho các ngân hàng luôn cảnh giác và nhìn nhau... không dám hạ lãi suất. Điều này càng trở nên thực tế khi kinh tế bất ổn, các kênh đầu tư như bất động sản; vàng hay chứng khoán dễ kiếm lời và hút vốn của ngân hàng.
Trong hoàn cảnh đó, thị trường đang trông đợi những tín hiệu hỗ trợ quan trọng từ chính sách và các cơ quan quản lý.
Đầu năm, Chính phủ đã phát đi thông điệp lấy ổn định kinh tế vĩ mô làm mục tiêu số một. Vấn đề bây giờ là điều đó cần phải được cụ thể và thực thi trên thực tế nhằm tạo ra những tín hiệu ổn định vĩ mô ngay từ đầu năm. Khi kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát giảm là sự hỗ trợ tốt nhất để các ngân hàng tính toán giảm lãi suất dài hạn.
Bên cạnh đó, các chính sách quản lý và kỹ thuật để điều tiết từ Ngân hàng Nhà nước cũng rất cần thiết để tăng thêm hỗ trợ cho các ngân hàng khi giảm lãi suất. Đó chính là các biện pháp ổn định tỷ giá, kiềm chế lạm phát, điều chỉnh linh hoạt các mức lãi suất theo nguyên tắc thị trường, tạo điều kiện cho việc huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế, hỗ trợ tăng trưởng bền vững.
Tín hiệu chưa đủ mạnh
Sau khi Ngân hàng Nhà nước ra tay chấn chỉnh cơn "sốc" lãi suất hồi tháng 12/2010, lãi suất đã có một bước ổn định và giảm mạnh. Từ trên 17% đã rút về đồng thuận và công khai ở mức 14%.
Từ đó đến nay, dù các ngân hàng có tăng cường khuyến mãi và các hình thức khác để tăng lợi ích cho khách hàng nhằm đẩy lãi suất thực lên cao nhằm huy động vốn, nhưng mặt bằng lãi suất vẫn được giữ ổn định ở mức 14%.
Những diễn biến mới nhất trên thị trường cho thấy, sau thời kỳ căng thẳng về thanh khoản khiến các ngân hàng đẩy lãi suất tất cả các kỳ hạn bằng nhau thì nay tại một số ngân hàng "trần" 14%/năm đã rút dần và chỉ tập trung phổ biến ở các kỳ hạn ngắn 1-3 tháng, các kỳ hạn dài hơn chỉ khoảng từ 12-13%/năm.
Điều này được các chuyên gia nhận xét, biểu hiện này cho thấy các ngân hàng đã tính đến rủi ro chi phí ở các kỳ hạn dài trước khả năng lãi suất sẽ giảm dần thời gian tới. Có thể, chỉ sau thời kỳ căng thẳng giáp Tết, dù lãi suất chưa giảm ngay nhưng những bất cập trên bảng lãi suất sẽ chấm dứt và đường cong lãi suất hợp lý sẽ xác lập.
Trong khi đó, trên thị trường liên ngân hàng, những tuần gần đây, những biến động về lãi suất đã chứng tỏ những tín hiệu mới. Theo thông lệ, thời điểm thanh toán căng thẳng cuối năm, các ngân hàng thường vay mượn nhiều trên thị trường liên ngân hàng để giải quyết những khó khăn ngắn hạn, đẩy lãi suất trên thị trường lên cao.
Tuy nhiên, trong những tuần cuối 2010 và đầu 2011, lãi suất vẫn tương đối ổn định và đã có những dấu hiệu cho thấy sự tích cực trong thanh khoản của các ngân hàng.
Tổng hợp giao dịch trên thị trường này, lãi suất bình quân trong tuần tính đến 7/1/2011 có xu hướng giảm nhẹ ở một số kỳ hạn. Nếu lãi suất giao dịch bằng VND bình quân qua đêm dao động trong biên độ khá rộng, từ 10% đến gần 12%/năm qua các ngày, thì lãi suất ở các kỳ hạn dài đang giảm đáng kể.
Cụ thể, nếu như trong tháng 12/2010, lãi suất giao dịch bình quân bằng VND các kỳ hạn 6 và 12 tháng ghi nhận những mức cao tới 13,5%/năm. Nhưng trong tuần đầu năm 2011, lãi suất giao dịch bình quân ở những kỳ hạn dài này đã giảm khá mạnh, cùng xuống dưới 13%/năm, tuần qua bình quân ở 12,8%/năm; riêng kỳ hạn 12 tháng có dấu hiệu giảm mạnh khi những ngày gần đây đã xuống dưới mốc 12% và ngày 7/1 chỉ còn 11,6%/năm. Dù đây mới chỉ là diễn biến ngắn nhưng cũng đã mang lại những tín hiệu hy vọng về giảm lãi suất.
Những tín hiệu này, cộng với định hướng của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất, càng khẳng định xu hướng giảm lãi suất là khá rõ. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, trong tất cả các cuộc làm việc với các ngân hàng và các cơ quan lãnh đạo cao hơn, đều nói rằng cơ quan này sẽ có các giải pháp để giảm dần lãi suất cho vay khi lạm phát có dấu hiệu hạ nhiệt.
Ông Lê Xuân Nghĩa - Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, cho rằng, với diễn biến hiện nay cùng với việc triển khai quyết liệt các giải pháp sau quý I/2011, mặt bằng lãi suất sẽ giảm.
Tuy nhiên, theo tính toán sơ bộ của các chuyên gia, mục tiêu lạm phát năm nay không quá 7%; như vậy lãi suất huy động không thể quá 10-12%/năm. Và những tín hiệu hiện nay vẫn chỉ mới là tia hy vọng chưa đủ mạnh để sớm có thể đi đến giảm lãi suất.
Lực cản và hỗ trợ
Không lạc quan bằng nhưng một số chuyên gia từ các công ty chứng khoán dự đoán, có thể lãi suất trong quý I/2011 sẽ vẫn ở mức cao như cuối năm 2010 nhưng từ quý II, lãi suất huy động và cho vay sẽ giảm dần.
Hội đồng Tư vấn tiền tệ cũng nhận định, quý I/2011, lãi suất sẽ là 14-17%/năm (huy động - cho vay); sang đến quý II và III/2011 giảm xuống còn 12-14,5%/năm. Tuy nhiên, từ mức huy động 14% cho vay 17-18% để giảm dần xuống 12% huy động và 14% cho vay như kỳ vọng hẳn còn một lộ trình rất dài.
Lực cản lớn nhất hiện nay đối với các ngân hàng trong việc tính toán lãi suất, bên cạnh sự căng thẳng thanh khoản ngắn hạn thì lạm phát đang là yếu tố khiến nhiều ngân hàng phải cân nhắc. Lạm phát 2010 đã ở mức hai con số. Năm 2011, lạm phát được đặt mục tiêu 7% nhưng trong quý 1/2011 là những tháng trong chu kỳ tăng giá nên lạm phát chưa thể giảm ngay.
Trong khi đó, dù chính phủ đặt mục tiêu lạm phát 7% nhưng đi kèm đó là tăng trường GDP 7,75% ắt hẳn sẽ kéo theo nhiều chính sách hỗ trợ tăng trưởng. Trong một nền kinh tế tăng trưởng dựa vào đầu tư, nhất là khi hiệu quả đầu tư (ICOR) còn cao thì vẫn còn tiềm ẩn những nguy cơ.
Trong khi đó, những hệ lụy từ chính sách điều hành 2010 và làn sóng tăng giá trong năm 2011 khiến lãi suất chưa thể giảm ngay và ngân hàng còn phải cảnh giác.
Một yếu tố khác mang tính chất thị trường không thể bỏ qua là thanh khoản và cạnh tranh vốn giữa các ngân hàng. Các ngân hàng Việt Nam vẫn sống nhờ vào huy động và cho vay. Với một cơ cấu nguồn vốn huy động có vốn ngắn hạn chiếm phần lớn, còn nhu cầu cho vay trung dài hạn khiến các ngân hàng rất dễ rơi vào căng thẳng thanh khoản và buộc phải đẩy lãi suất lên cao để cạnh tranh thu hút và giữ nguồn vốn. Lãi suất ngân hàng vẫn phải "giữ chân" vốn ngắn hạn.
Thực tế, với nguồn vốn huy động thiếu ổn định, dễ dịch chuyển... đã nhiều lần khiến các ngân hàng lao vào các cuộc đua lãi khiến cơ quan quản lý không lường trước và phải sử dụng các biện pháp hành chính cấp bách để chấn chỉnh như cuối 2010. Áp lực huy động vốn khiến cho các ngân hàng luôn cảnh giác và nhìn nhau... không dám hạ lãi suất. Điều này càng trở nên thực tế khi kinh tế bất ổn, các kênh đầu tư như bất động sản; vàng hay chứng khoán dễ kiếm lời và hút vốn của ngân hàng.
Trong hoàn cảnh đó, thị trường đang trông đợi những tín hiệu hỗ trợ quan trọng từ chính sách và các cơ quan quản lý.
Đầu năm, Chính phủ đã phát đi thông điệp lấy ổn định kinh tế vĩ mô làm mục tiêu số một. Vấn đề bây giờ là điều đó cần phải được cụ thể và thực thi trên thực tế nhằm tạo ra những tín hiệu ổn định vĩ mô ngay từ đầu năm. Khi kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát giảm là sự hỗ trợ tốt nhất để các ngân hàng tính toán giảm lãi suất dài hạn.
Bên cạnh đó, các chính sách quản lý và kỹ thuật để điều tiết từ Ngân hàng Nhà nước cũng rất cần thiết để tăng thêm hỗ trợ cho các ngân hàng khi giảm lãi suất. Đó chính là các biện pháp ổn định tỷ giá, kiềm chế lạm phát, điều chỉnh linh hoạt các mức lãi suất theo nguyên tắc thị trường, tạo điều kiện cho việc huy động các nguồn vốn trong nền kinh tế, hỗ trợ tăng trưởng bền vững.
Thứ Hai, 17 tháng 1, 2011
lời dịch bài hát If I a were boy - Beyonce
If I were a boy
Even just for a day
I’d roll outta bed in the morning
And throw on what I wanted then go
Drink beer with the guys
And chase after girls
I’d kick it with who I wanted
And I’d never get confronted for it.
Cause they’d stick up for me.
If I were a boy
I think I could understand
How it feels to love a girl
I swear I’d be a better man.
I’d listen to her
Cause I know how it hurts
When you lose the one you wanted
Cause he’s taken you for granted
And everything you had got destroyed
If I were a boy
I would turn off my phone
Tell evveryone it’s broken
So they’d think that I was sleepin’ alone
I’d put myself first
And make the rules as I go
Cause I know that she’d be faithful
Waitin’ for me to come home (to come home)
If I were a boy
I think I could understand
How it feels to love a girl
I swear I’d be a better man.
I’d listen to her
Cause I know how it hurts
When you lose the one you wanted (wanted)
Cause he’s taken you for granted (granted)
And everything you had got destroyed
It’s a little too late for you to come back
Say its just a mistake
Think I’d forgive you like that
If you thought I would wait for you
You thought wrong
But you’re just a boy
You don’t understand
Yeah you don’t understand
How it feels to love a girl someday
You wish you were a better man
You don’t listen to her
You don’t care how it hurts
Until you lose the one you wanted
Cause you’ve taken her for granted
And everything you have got destroyed
But you’re just a boy
Even just for a day
I’d roll outta bed in the morning
And throw on what I wanted then go
Drink beer with the guys
And chase after girls
I’d kick it with who I wanted
And I’d never get confronted for it.
Cause they’d stick up for me.
If I were a boy
I think I could understand
How it feels to love a girl
I swear I’d be a better man.
I’d listen to her
Cause I know how it hurts
When you lose the one you wanted
Cause he’s taken you for granted
And everything you had got destroyed
If I were a boy
I would turn off my phone
Tell evveryone it’s broken
So they’d think that I was sleepin’ alone
I’d put myself first
And make the rules as I go
Cause I know that she’d be faithful
Waitin’ for me to come home (to come home)
If I were a boy
I think I could understand
How it feels to love a girl
I swear I’d be a better man.
I’d listen to her
Cause I know how it hurts
When you lose the one you wanted (wanted)
Cause he’s taken you for granted (granted)
And everything you had got destroyed
It’s a little too late for you to come back
Say its just a mistake
Think I’d forgive you like that
If you thought I would wait for you
You thought wrong
But you’re just a boy
You don’t understand
Yeah you don’t understand
How it feels to love a girl someday
You wish you were a better man
You don’t listen to her
You don’t care how it hurts
Until you lose the one you wanted
Cause you’ve taken her for granted
And everything you have got destroyed
But you’re just a boy
Dù chỉ trong một ngày thôi
Tôi sẽ lăn ra khỏi giường vào buổi sáng
Và ném những gì mà tôi muốn lên rồi đi
Uống bia với hội bạn
Và theo đuổi các cô gái
Và đá nó với người mà tôi muốn
Và tôi sẽ không bao giờ phải đối đầu với nó
Bởi họ sẽ luôn yêu tôi
Nếu tôi là một chàng trai
Tôi nghĩ là tôi có thể hiểu được
Cảm thấy thế nào khi yêu một cô gái
Tôi thề là tôi sẽ là một người đàn ông tốt hơn
Tôi sẽ lắng nghe cô ấy
Bởi tôi biết nó đau đớn như thế nào
Khi bạn mất đi người mà bạn mong muốn
Bởi anh ta cứ công nhận như vậy
Và mọi thứ bạn có đều bị phá huỷ
Nếu tôi là một chàng trai
Tôi sẽ tắt điện thoại di động
Nói với mọi người là nó bị vỡ
Thế nên họ sẽ nghĩ tôi ngủ một mình
Tôi sẽ đặt bản thân mình lên hàng đầu
Và thống trị nơi tôi đi
Bởi tôi biết cô ấy sẽ chung thuỷ với tôi
Chờ tôi về nhà
Nếu tôi là một chàng trai
Tôi nghĩ là tôi có thể hiểu được
Cảm thấy thế nào khi yêu một cô gái
Tôi thề là tôi sẽ là một người đàn ông tốt hơn
Tôi sẽ lắng nghe cô ấy
Bởi tôi biết nó đau đớn nhưu thế nào
Khi bạn mất đi người mà bạn mong muốn
Bởi anh ta cứ công nhận như vậy
Và mọi thứ bạn có đều bị phá huỷ
Đã quá muộn cho anh để quay lại
Nói rằng đó chỉ là một lỗi lầm
Nghĩ là tôi sẽ tha thứ cho anh như thế
Nếu anh nghĩ tôi sẽ đợi chờ anh
Thì anh nhầm rồi
Nhưng anh chỉ là một chàng trai
Anh không thể hiểu được
Phải, anh không hiểu
Cảm thấy như thế nào khi yêu một cô gái
Anh ước anh là người đàn ông tốt hơn
Anh không lắng nghe cô ấy
Anh không quan tâm nó đau đớn đến thế nào
Cho đến khi anh đánh mất người anh mong
Bởi anh cứ công nhận cô ta như vậy
Nhưng anh chỉ là một chàng trai
Chủ Nhật, 9 tháng 1, 2011
Để giao tiếp - Ứng xử thành công
Trong cuộc sống, trong giao tiếp hàng ngày con người luôn phải ứng phó với biết bao tình huống, có lúc dễ dàng xử lý, có lúc thật phức tạp, khó xử. Xã hội càng văn minh thì nhu cầu trong giao tiếp của con người càng cao. Ứng xử một cách thông minh, khôn khéo, tế nhị, kịp thời, có hiệu quả, đạt tới mức độ nghệ thuật, ngày nay còn được coi như bí quyết thành công trong cuộc sống, trong công việc.
Để giao tiếp, ứng xử thành công hơn bạn nên chú ý những nguyên tắc sau:
I. Nguyên tắc ứng xử:
1. Hãy tiếp cận với con người ở góc độ không tốt, không xấu:
Không có ai là người hoàn toàn xấu cả. Khi đánh giá con người cụ thể chúng ta thường bị những cách nhìn tĩnh tại, xơ cứng, bị định kiến che lấp, ít khi tách ra được dù chỉ là tương đối đầy đủ những ưu điểm, nhược điểm của họ và lại càng không xác định được giới hạn, hoàn cảnh, diễn biến có thể có của những ưu điểm và nhược điểm đó. Con người cũng dễ bị chi phối bởi qui luật cảm xúc "yêu nên tốt, ghét nên xấu". Kết quả là dễ mắc sai lầm trong giao tiếp. Do vậy nguyên tắc đầu tiên trong nghệ thuật ứng xử là hãy tiếp cận với con người ở góc độ không tốt, không xấu.
Ở nguyên tắc này, mỗi người có thể tự tìm cho mình một cách ứng xử thành công, ta tạm chia thành các bước sau:
Bước 1: Hãy thừa nhận (chấp nhận).
Bước 2: Biết lắng nghe ý kiến, tìm ra chỗ mạnh, chỗ yếu của người. Thấy cái mạnh, lợi thế của ta (cái ta có mà người không có).
Bước 3: Tạo ra sự đồng cảm, gây niềm tin (hiểu biết lẫn nhau, gây sự tin tưởng).
Bước 4: Tìm điểm chung, mỗi bên đều thấy được cái lợi, cái vui và cách cộng tác, tương lai của sự cộng tác đó.
Bước 5: Tạo dư luận ủng hộ, xây dựng mối quan hệ thân tình.
2. Lường mọi điều, tính đến mọi khả năng với nhiều phương án:
Nếu trong mỗi con người đều có những giá trị dương (+) (những đức tín tốt, những mặt mạnh, những ưu điểm...) và có cả những giá trị âm (-) (những tính xấu, những mặt yếu, những khuyết điểm...) thì với người này có thể tới 90 (+), có 10 (-) hoặc ở người khác có thể đạt 99 (+) chỉ có 1 (-). Vấn đề là ở chỗ cần phải biết nhìn ra "dấu cộng" trong cả khối "dấu trừ" và phát hiện kịp thời "dấu trừ" trong "vô khối dấu cộng" để có thể dự đoán được tác động có hại của mặt trái "dấu trừ" mà khởi thủy của nó chỉ là một chấm nhỏ rất mờ nhạt trong cả khối "dấu cộng".
Điều quan trọng hơn trong phép ứng xử là tìm ra những chất xúc tác để kích thích phản ứng đổi dấu tích cực xảy ra theo hướng 1 (+) trở thành n (+) và n (-) giảm xuống còn 1 (-).
3. Nắm bắt nghệ thuật theo nhu cầu:
Điều khó nhất trong giao tiếp ứng xử là đối tượng thờ ơ, không có nhu cầu. Bạn sẽ ứng xử như thế nào khi đối tượng không muốn nói chuyện, không muốn nghe bạn can ngăn, không muốn hợp tác với bạn v.v...?
- Hãy gợi trí tò mò hoặc cho họ thấy cái lợi, cái vui mà bạn đang có, còn người ấy đang thiếu, đang cần.
- Chỉ cho họ bằng cách nào đó, thấy tia hy vọng vào kết quả, gây thiện cảm, tạo sự tin tưởng.
- Giao trách nhiệm một cách công khai, tạo ra tình huống chỉ có tiến chứ không có lùi, ràng buộc bằng những sợi dây vô hình về quan hệ nào đó đã được hình thành.
- Gây niềm say mê, tìm được ý nghĩa trong cuộc sống, công việc đang tiến hành.
- Củng cố niềm tin, thuyết phục về một kết cục tốt đẹp.
- Phải tạo ra sự an toàn, biết cách chống đỡ dư luận, tạo dư luận mới ủng hộ.
- Tính đến nhiều phương án, chọn phương án hợp với mình nhất, có thể tạo ra những vấp ngã nhỏ để luyện tập bản lĩnh, chủ động đề phòng tính tự kiêu.
Trong những trường hợp cụ thể đòi hỏi mọi người phải biết ứng biến và điều quan trọng hơn là hãy tìm cho được sơ đồ đi tới thành công riêng của mình.
II. Một số cách ứng xử:
1. Thủ thuật "ném đá thăm đường":
Có bạn trai tâm sự: Đến dự đám cưới một người bạn, tôi đã gặp một người con gái mà tôi thầm mơ ước, tôi rất muốn làm quen với người con gái ấy nhưng không biết phải bắt đầu như thế nào?
Có lẽ trước tiên nên bắt đầu vào đề từ cùng một hứng thú. Chẳng hạn có thể từ một bức tranh, một bản nhạc, một ca khúc mới được mọi người yêu thích, hay một bộ phim mới, một quyển sách mới, một mốt quần áo mới... những cái đối phương biết rõ và có phản ứng tích cực. Hoặc có thể từ một điểm chung nào đó về học tập, việc làm... Bắt đầu từ những câu chuyện không quan trọng lắm để làm mất đi sự căng thẳng và ngăn cách giữa hai người và qua đó bạn có thể hiểu thêm về người bạn mà ta muốn gần gũi (những sở thích, thói quen, cá tính...) có một sơ đồ giao tiếp sau đây:
a. Giai đoạn trước khi giao tiếp:
- Xác định mục đích, làm quen đối tượng và gây ấn tượng tốt
- Đánh giá đối tượng, hoàn cảnh:
Sở thích,thói quen, cá tính.
Thời gian, không gian cuộc gặp.
Có hay không có người giới thiệu.
- Lựa chọn phương án ứng xử:
Tìm cớ làm quen cho hợp lý, tế nhị.
Ngôn ngữ, cử chỉ dễ cảm mến.
Văn phong gần gũi, không quá trịnh trọng nhưng cũng không suồng sã.
Tính trước những tình huống bất ngờ có thể xảy ra để ứng xử nhanh.
b. Giai đoạn giao tiếp:
Nên:
Phá bầu không khí xa lạ bằng việc hỏi han hoặc những câu nói đùa.
Tìm chủ đề chung, ít chạm đến quan điểm cá nhân.
Nói ít về mình. Chú ý quan sát cử chỉ, điệu bộ, nét mặt của đối phương.
Giới hạn cuộc giao tiếp trong phạm vi vừa đủ, dừng đúng lúc.
Nêu ra những câu hỏi thăm dò, chủ động gợi chuyện.
Tự tin.
Không nên:
Vội vã đi vào vấn đề chính.
Đặt những câu hỏi liên quan nhiều đến cá nhân.
Nói nhiều về mình, dốc bầu tâm sự, nói thẳng về mình khi đối phương đặt những câu hỏi thăm dò.
Chuyện lan man, kéo dài cuộc giao tiếp.
Khích bác hoặc công kích nói xấu một ai đó.
Rụt rè, lảng tránh, ấp úng.
2. Tình huống cần đối đáp mềm mỏng, ý nghĩa sâu xa:
Dân gian có câu:
"Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau".
Đối với nhiều ý kiến phê bình, phản đối của đối phương, không nên đáp lại bằng những lời nói hằn học, nặng nề mà nhiều khi nên dùng lời nói nhẹ nhàng nhưng chứa đựng những ý nghĩa sâu xa.
3. Tình huống phải chuyển bại thành thắng:
Trong cuộc sống đời thườnng nhiều khi ta bị đẩy vào tình huống bất lợi, có nguy cơ thất bại, lúc đó đòi hỏi phải bình tĩnh, suy nghĩ ngay đến những hậu quả xấu nhất có thể xảy ra (chuẩn bị tâm thế sẵn sàng chấp nhận). Tìm xem có cách gì để hạn chế mức thấp nhất những tác hại (ví dụ: điều gì đã đẩy ta vào tình thế bất lợi, có cách nào tạo được kế hoãn binh có vẻ ít liên quan, nhưng nếu được "địch thủ" sẵn sàng chấp nhận thì chính điều có vẻ không liên quan đó có thể thay đổi tình thế...).
4. Tình huống dùng hài hước:
"Khi bạn nổi cáu ta hãy đùa lại một câu" (Laphôngten).
Hài hước là một nhân tố cực kỳ quan trọng trong ngôn ngữ giao tiếp. Đó là "chiếc van an toàn" cho mọi cuộc xung đột, là chìa khóa để mở "cánh cửa lòng". Lời đối đáp khôn ngoan, thông minh, dùng ngôn ngữ hài hước để phê phán thường mang lại hiệu quả lớn hơn nhiều. Bởi thế khi kể một câu chuyện cười hoặc một lời đối đáp có nội dung, cách nói hài hước thường làm cho không khí vui nhộn, điều tiết được tình cảm, nhắc khéo người khác mà không làm họ bực mình. Tất nhiên cũng không nên lạm dụng nó.
Quy luật phổ biến của truyện hài hước là mở đầu dẫn dắt và hình thành làm cho người ta nghi vấn. Người kể nên có ngữ điệu bình thường, sau đó tăng thêm tình tiết nghi hoặc và giải quyết bất ngờ.
5. Tình huống phải đi thẳng vào vấn đề khi cần thiết:
Trong cuộc sống có trường hợp không thể quanh co, bóng gió, tế nhị mà phải bày tỏ quan điểm, thái độ của mình một cách thẳng thắn, kiên quyết. Lúc đó phải diễn đạt vào thẳng nội dung chính của vấn đề để biểu hiện ý chí và lòng tin ở bản thân. Đối với những vấn đề then chốt không nên tỏ ra quá cân nhắc, đắn đo làm cho người nghe cảm thấy thiếu tin tưởng, do dự. Tất nhiên để nói bằng cách này cần phải suy nghĩ, cân nhắc thật kỹ càng.
6. Tình huống nói ẩn ý bằng ngụ ngôn:
Trong giao tiếp khi cảm thấy khó thuyết phục người khác bằng lý lẽ trực tiếp hoặc cảm thấy dễ bị phản ứng, không tiện nói thẳng ra, thì người ta thường dùng phương pháp ẩn ý bằng ngụ ngôn. Tức là chọn những câu chuyện ngụ ngôn có nội dung ẩn ý bên trong phù hợp với mục đích khuyên răn, thuyết phục của mình để kể cho đối phương nghe.
Cái lợi của phương pháp này là người nghe phải suy nghĩ mới hiểu hết cái ẩn ý bên trong đó. Bản thân câu chuyện sẽ đưa ra những lời khuyên sâu sắc chứ không phải người kể chuyện, do đó không có lý do để nổi khùng, tự ái hoặc mặc cảm.
Tuy nhiên để dùng phương pháp này có hiệu quả, người dùng phương pháp này phải am hiểu câu chuyện phù hợp với trình độ người nghe, nếu người nghe không hiểu gì cả, sẽ không có tác dụng.
7. Tình huống phản bác khéo những yêu cầu vô lý ở người khác:
Cũng có lúc bạn gặp những người khăng khăng đưa ra cho bạn những đòi hỏi vô lý không thể thực hiện được. Trước những tình huống đó nhiều khi ta không thể bác bỏ thẳng thừng vì chạm lòng tự ái hoặc người không thỏa mãn với ta rồi tiếp tục quấy rối nữa và cách đó cũng chưa làm cho người tự nhận thấy được những đòi hỏi của họ là vô lý.
Vậy ta sẽ xử lý thế nào trong trường hợp đó? Tốt nhất là hãy thừa nhận đã, sau đó khéo léo chỉ ra sự vô lý hoặc điều không thể thực hiện được. Cũng có thể cảnh tỉnh người đó bằng việc chỉ ra những điều bất lợi, sự nguy hiểm nếu người đó cứ giữ nguyên ý kiến, nhắm mắt hành động. Chú ý ngôn ngữ không nên gay gắt nhưng tỏ ra cương quyết.
8. Tình huống thừa nhận trước để chuyển hướng sau:
Nếu khi bạn không đồng ý với ý kiến của đối phương mà người đó lại là cấp trên, người lớn tuổi, cha mẹ... thì bạn sẽ xử sự như thế nào? Việc thuyết phục để đối phương nghe theo mình, có nghĩa là chấp nhận ý kiến của mình cũng đòi hỏi phải có một nghệ thuật nhất định.
Bạn chớ phản đối và phê phán các ý kiến của đối phương. Bạn hãy tiếp thu ý kiến của họ, biểu thị thái độ đồng cảm ở mức độ nào đó để có thể làm giảm được sự cứng nhắc của đối phương, khiến họ bằng lòng nghe ý kiến của bạn. Song phải nắm vững nguyên tắc không được tỏ thái độ của mình ngang bằng với đối phương để tiếp sau đó dùng lời mà chuyển hướng, thay đổi cách nhìn nhận của đối phương, làm họ bằng lòng tiếp thu ý kiến của bạn.
9. Tình huống cần bạn đồng minh:
Khi tranh luận trước nhiều người cần thể hiện quan điểm, bạn nên chú ý đầy đủ đến thái độ của những người xung quanh, cần động viên được nhiều người nghe và ủng hộ quan điểm của mình. Nếu người nghe ủng hộ ta, đồng tình với quan điểm của ta đang trình bày, sẽ tạo thành một sức mạnh to lớn, một sức ép tinh thần làm đối phương không phản kích lại được.
Chẳng hạn khi đang xếp hàng có người chen ngang, bạn lợi dụng thái độ của số đông mọi người xung quanh để gạt người đó ra khỏi hàng là hợp lý nhất.
10. Tình huống không nhượng bộ khi mình có lý trong tranh luận:
Trong quan hệ giữa người với người, tranh luận là một điều hết sức bình thường và không thể tránh được. Không có tranh luận, điều phải trái không được phân định. Không thể coi tranh luận là một thói xấu mà hạn chế nó.
Song tranh luận có thể dẫn đến sự không thoải mái hoặc đôi khi xung đột. Tranh luận có phương pháp sẽ đem lại kết quả tốt là điều chúng ta cần chú ý học hỏi.
Một là, khi tranh luận nên có thái độ thật công bằng, đừng làm tổn thương đến lòng tự ái của người kia. Sự phê phán, bình phẩm người khác không thể quá một giới hạn nhất định, nếu không có thể làm tăng thêm mâu thuẫn vốn có.
Hai là, giọng nói phải mền mỏng, thật lòng. Trong tranh luận phải tỏ ra tôn trọng nhau, làm sao cho người cùng tranh luận tin rằng tranh luận thật là có ích. Trong tranh luận nhiều khi người thắng không hẳn đã là nhiều lý lẽ biết hùng biện, mà có thể là người có thái độ đúng mực và chân thực nhất.
Ba là, tranh luận phải có mục đích rõ ràng. Tranh luận nên xoay quanh những điều cần giải quyết.
11. Tình huống cần thuyết phục bằng hành động:
"Mọi lý thuyết đều màu xám
Còn cây đời mãi mãi xanh tươi"
(Gơt)
Trong giao tiếp, khi cảm thấy khó thuyết phục người khác nghe ý kiến của mình bằng lời nói, bạn có thể dùng hành động để thuyết phục. Thuyết phục bằng hành động thường hiệu quả lớn nhất. Thông qua việc làm, hành động cụ thể, ta có thể làm cho đối phương thay đổi cách nghĩ, tình cảm, thái độ, chấp nhận ý kiến của ta.
Bạn là một cán bộ phong trào thanh niên. Bạn muốn tổ chức các hoạt động văn hóa thể dục thể thao thanh niên nhưng các cấp lãnh đạo ở địa phương chưa tin tưởng vào khả năng của bạn, chưa tạo điều kiện mọi mặt để bạn làm việc. Bạn đừng nản chí và cũng đừng dùng lời nói để thuyết phục. Hãy cố gắng tạo ra một vài việc làm cụ thể có hiệu quả. Từ sự thành công đã đạt được, tận dụng thời điểm gây hưng phấn cao rồi đưa ra những kiến giải hợp lý với các cấp lãnh đạo.
Như vậy, mục đích và kết quả hoạt động đạt được và mối quan hệ ảnh hưởng của bạn phát triển tốt hơn.
Khi vận dụng phương pháp này bạn cần lưu ý:
Mục đích hoạt động phải rõ ràng, không vụ lợi.
Có kế hoạch hành động chi tiết, tính đến các điều kiện cần và đủ đảm bảo cho sự thành công, bước đầu tiên tránh thất bại.
Tạo dư luận ủng hộ để gây sức ép hoặc quy tụ sức mạnh.
Làm thử để chứng minh, rút kinh nghiệm.
Tạo quan hệ gần gũi tin cẩn.
Nếu ở vào tình huống các bậc "hụ huynh" của người yêu bạn còn chưa tin tưởng và chấp nhận cho bạn yêu con của họ, thì bạn cũng có thể dùng phương pháp này để đạt mục đích.
III. Những điều nên tránh trong giao tiếp ứng xử:
1. Nói nửa chừng rồi dừng lại hoặc cướp lời người đang nói, làm nhiễu thứ tự hoặc luồng suy nghĩ của người đó.
2. Không nói rõ và giải thích đầy đủ làm người nghe cảm thấy đột ngột, khó hiểu đề tài nói chuyện của bạn. Không nên đưa những trọng tâm, những khái quát làm người tiếp chuyện khó theo dõi mạch chuyện.
3. Nói sai đề tài, không quan tâm đến điều mình nói.
4. Nói thao thao bất tuyệt, không ngừng nêu các câu hỏi làm người tiếp chuyện có cảm giác mình yêu cầu hơi nhiều quá.
5. Không trả lời thẳng vào câu hỏi mà người khác nêu ra, quanh co, dài dòng, gây nên cảm giác không trung thực cho người hỏi.
6. Tự cho rằng mọi điều mình đều biết cả.
7. Làm ra vẻ hiểu biết sâu rộng.
8. Phát triển câu chuyện không tập trung vào chủ đề chính làm cho người tiếp chuyện cảm thấy nhàm chán.9. Ngắt bỏ hứng thú nói chuyện của người khác để ép người đó phải chuyển sang nói về đề tài mà bạn thích.
10. Thì thầm với một vài người trong đám đông.
11. Dùng ngôn ngữ quá bóng bảy.
12. Chêm những câu tiếng nước ngoài trong câu nói của mình một cách tùy tiện.
13. Đột ngột cao giọng.
14. Dùng những lời quá suồng sã với mức độ quan hệ.
15. Dùng những từ đệm không cần thiết.
16. Nói với giọng khích bác, chạm vào lòng tự ái của người khác.
Để giao tiếp, ứng xử thành công hơn bạn nên chú ý những nguyên tắc sau:
I. Nguyên tắc ứng xử:
1. Hãy tiếp cận với con người ở góc độ không tốt, không xấu:
Không có ai là người hoàn toàn xấu cả. Khi đánh giá con người cụ thể chúng ta thường bị những cách nhìn tĩnh tại, xơ cứng, bị định kiến che lấp, ít khi tách ra được dù chỉ là tương đối đầy đủ những ưu điểm, nhược điểm của họ và lại càng không xác định được giới hạn, hoàn cảnh, diễn biến có thể có của những ưu điểm và nhược điểm đó. Con người cũng dễ bị chi phối bởi qui luật cảm xúc "yêu nên tốt, ghét nên xấu". Kết quả là dễ mắc sai lầm trong giao tiếp. Do vậy nguyên tắc đầu tiên trong nghệ thuật ứng xử là hãy tiếp cận với con người ở góc độ không tốt, không xấu.
Ở nguyên tắc này, mỗi người có thể tự tìm cho mình một cách ứng xử thành công, ta tạm chia thành các bước sau:
Bước 1: Hãy thừa nhận (chấp nhận).
Bước 2: Biết lắng nghe ý kiến, tìm ra chỗ mạnh, chỗ yếu của người. Thấy cái mạnh, lợi thế của ta (cái ta có mà người không có).
Bước 3: Tạo ra sự đồng cảm, gây niềm tin (hiểu biết lẫn nhau, gây sự tin tưởng).
Bước 4: Tìm điểm chung, mỗi bên đều thấy được cái lợi, cái vui và cách cộng tác, tương lai của sự cộng tác đó.
Bước 5: Tạo dư luận ủng hộ, xây dựng mối quan hệ thân tình.
2. Lường mọi điều, tính đến mọi khả năng với nhiều phương án:
Nếu trong mỗi con người đều có những giá trị dương (+) (những đức tín tốt, những mặt mạnh, những ưu điểm...) và có cả những giá trị âm (-) (những tính xấu, những mặt yếu, những khuyết điểm...) thì với người này có thể tới 90 (+), có 10 (-) hoặc ở người khác có thể đạt 99 (+) chỉ có 1 (-). Vấn đề là ở chỗ cần phải biết nhìn ra "dấu cộng" trong cả khối "dấu trừ" và phát hiện kịp thời "dấu trừ" trong "vô khối dấu cộng" để có thể dự đoán được tác động có hại của mặt trái "dấu trừ" mà khởi thủy của nó chỉ là một chấm nhỏ rất mờ nhạt trong cả khối "dấu cộng".
Điều quan trọng hơn trong phép ứng xử là tìm ra những chất xúc tác để kích thích phản ứng đổi dấu tích cực xảy ra theo hướng 1 (+) trở thành n (+) và n (-) giảm xuống còn 1 (-).
3. Nắm bắt nghệ thuật theo nhu cầu:
Điều khó nhất trong giao tiếp ứng xử là đối tượng thờ ơ, không có nhu cầu. Bạn sẽ ứng xử như thế nào khi đối tượng không muốn nói chuyện, không muốn nghe bạn can ngăn, không muốn hợp tác với bạn v.v...?
- Hãy gợi trí tò mò hoặc cho họ thấy cái lợi, cái vui mà bạn đang có, còn người ấy đang thiếu, đang cần.
- Chỉ cho họ bằng cách nào đó, thấy tia hy vọng vào kết quả, gây thiện cảm, tạo sự tin tưởng.
- Giao trách nhiệm một cách công khai, tạo ra tình huống chỉ có tiến chứ không có lùi, ràng buộc bằng những sợi dây vô hình về quan hệ nào đó đã được hình thành.
- Gây niềm say mê, tìm được ý nghĩa trong cuộc sống, công việc đang tiến hành.
- Củng cố niềm tin, thuyết phục về một kết cục tốt đẹp.
- Phải tạo ra sự an toàn, biết cách chống đỡ dư luận, tạo dư luận mới ủng hộ.
- Tính đến nhiều phương án, chọn phương án hợp với mình nhất, có thể tạo ra những vấp ngã nhỏ để luyện tập bản lĩnh, chủ động đề phòng tính tự kiêu.
Trong những trường hợp cụ thể đòi hỏi mọi người phải biết ứng biến và điều quan trọng hơn là hãy tìm cho được sơ đồ đi tới thành công riêng của mình.
II. Một số cách ứng xử:
1. Thủ thuật "ném đá thăm đường":
Có bạn trai tâm sự: Đến dự đám cưới một người bạn, tôi đã gặp một người con gái mà tôi thầm mơ ước, tôi rất muốn làm quen với người con gái ấy nhưng không biết phải bắt đầu như thế nào?
Có lẽ trước tiên nên bắt đầu vào đề từ cùng một hứng thú. Chẳng hạn có thể từ một bức tranh, một bản nhạc, một ca khúc mới được mọi người yêu thích, hay một bộ phim mới, một quyển sách mới, một mốt quần áo mới... những cái đối phương biết rõ và có phản ứng tích cực. Hoặc có thể từ một điểm chung nào đó về học tập, việc làm... Bắt đầu từ những câu chuyện không quan trọng lắm để làm mất đi sự căng thẳng và ngăn cách giữa hai người và qua đó bạn có thể hiểu thêm về người bạn mà ta muốn gần gũi (những sở thích, thói quen, cá tính...) có một sơ đồ giao tiếp sau đây:
a. Giai đoạn trước khi giao tiếp:
- Xác định mục đích, làm quen đối tượng và gây ấn tượng tốt
- Đánh giá đối tượng, hoàn cảnh:
Sở thích,thói quen, cá tính.
Thời gian, không gian cuộc gặp.
Có hay không có người giới thiệu.
- Lựa chọn phương án ứng xử:
Tìm cớ làm quen cho hợp lý, tế nhị.
Ngôn ngữ, cử chỉ dễ cảm mến.
Văn phong gần gũi, không quá trịnh trọng nhưng cũng không suồng sã.
Tính trước những tình huống bất ngờ có thể xảy ra để ứng xử nhanh.
b. Giai đoạn giao tiếp:
Nên:
Phá bầu không khí xa lạ bằng việc hỏi han hoặc những câu nói đùa.
Tìm chủ đề chung, ít chạm đến quan điểm cá nhân.
Nói ít về mình. Chú ý quan sát cử chỉ, điệu bộ, nét mặt của đối phương.
Giới hạn cuộc giao tiếp trong phạm vi vừa đủ, dừng đúng lúc.
Nêu ra những câu hỏi thăm dò, chủ động gợi chuyện.
Tự tin.
Không nên:
Vội vã đi vào vấn đề chính.
Đặt những câu hỏi liên quan nhiều đến cá nhân.
Nói nhiều về mình, dốc bầu tâm sự, nói thẳng về mình khi đối phương đặt những câu hỏi thăm dò.
Chuyện lan man, kéo dài cuộc giao tiếp.
Khích bác hoặc công kích nói xấu một ai đó.
Rụt rè, lảng tránh, ấp úng.
2. Tình huống cần đối đáp mềm mỏng, ý nghĩa sâu xa:
Dân gian có câu:
"Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau".
Đối với nhiều ý kiến phê bình, phản đối của đối phương, không nên đáp lại bằng những lời nói hằn học, nặng nề mà nhiều khi nên dùng lời nói nhẹ nhàng nhưng chứa đựng những ý nghĩa sâu xa.
3. Tình huống phải chuyển bại thành thắng:
Trong cuộc sống đời thườnng nhiều khi ta bị đẩy vào tình huống bất lợi, có nguy cơ thất bại, lúc đó đòi hỏi phải bình tĩnh, suy nghĩ ngay đến những hậu quả xấu nhất có thể xảy ra (chuẩn bị tâm thế sẵn sàng chấp nhận). Tìm xem có cách gì để hạn chế mức thấp nhất những tác hại (ví dụ: điều gì đã đẩy ta vào tình thế bất lợi, có cách nào tạo được kế hoãn binh có vẻ ít liên quan, nhưng nếu được "địch thủ" sẵn sàng chấp nhận thì chính điều có vẻ không liên quan đó có thể thay đổi tình thế...).
4. Tình huống dùng hài hước:
"Khi bạn nổi cáu ta hãy đùa lại một câu" (Laphôngten).
Hài hước là một nhân tố cực kỳ quan trọng trong ngôn ngữ giao tiếp. Đó là "chiếc van an toàn" cho mọi cuộc xung đột, là chìa khóa để mở "cánh cửa lòng". Lời đối đáp khôn ngoan, thông minh, dùng ngôn ngữ hài hước để phê phán thường mang lại hiệu quả lớn hơn nhiều. Bởi thế khi kể một câu chuyện cười hoặc một lời đối đáp có nội dung, cách nói hài hước thường làm cho không khí vui nhộn, điều tiết được tình cảm, nhắc khéo người khác mà không làm họ bực mình. Tất nhiên cũng không nên lạm dụng nó.
Quy luật phổ biến của truyện hài hước là mở đầu dẫn dắt và hình thành làm cho người ta nghi vấn. Người kể nên có ngữ điệu bình thường, sau đó tăng thêm tình tiết nghi hoặc và giải quyết bất ngờ.
5. Tình huống phải đi thẳng vào vấn đề khi cần thiết:
Trong cuộc sống có trường hợp không thể quanh co, bóng gió, tế nhị mà phải bày tỏ quan điểm, thái độ của mình một cách thẳng thắn, kiên quyết. Lúc đó phải diễn đạt vào thẳng nội dung chính của vấn đề để biểu hiện ý chí và lòng tin ở bản thân. Đối với những vấn đề then chốt không nên tỏ ra quá cân nhắc, đắn đo làm cho người nghe cảm thấy thiếu tin tưởng, do dự. Tất nhiên để nói bằng cách này cần phải suy nghĩ, cân nhắc thật kỹ càng.
6. Tình huống nói ẩn ý bằng ngụ ngôn:
Trong giao tiếp khi cảm thấy khó thuyết phục người khác bằng lý lẽ trực tiếp hoặc cảm thấy dễ bị phản ứng, không tiện nói thẳng ra, thì người ta thường dùng phương pháp ẩn ý bằng ngụ ngôn. Tức là chọn những câu chuyện ngụ ngôn có nội dung ẩn ý bên trong phù hợp với mục đích khuyên răn, thuyết phục của mình để kể cho đối phương nghe.
Cái lợi của phương pháp này là người nghe phải suy nghĩ mới hiểu hết cái ẩn ý bên trong đó. Bản thân câu chuyện sẽ đưa ra những lời khuyên sâu sắc chứ không phải người kể chuyện, do đó không có lý do để nổi khùng, tự ái hoặc mặc cảm.
Tuy nhiên để dùng phương pháp này có hiệu quả, người dùng phương pháp này phải am hiểu câu chuyện phù hợp với trình độ người nghe, nếu người nghe không hiểu gì cả, sẽ không có tác dụng.
7. Tình huống phản bác khéo những yêu cầu vô lý ở người khác:
Cũng có lúc bạn gặp những người khăng khăng đưa ra cho bạn những đòi hỏi vô lý không thể thực hiện được. Trước những tình huống đó nhiều khi ta không thể bác bỏ thẳng thừng vì chạm lòng tự ái hoặc người không thỏa mãn với ta rồi tiếp tục quấy rối nữa và cách đó cũng chưa làm cho người tự nhận thấy được những đòi hỏi của họ là vô lý.
Vậy ta sẽ xử lý thế nào trong trường hợp đó? Tốt nhất là hãy thừa nhận đã, sau đó khéo léo chỉ ra sự vô lý hoặc điều không thể thực hiện được. Cũng có thể cảnh tỉnh người đó bằng việc chỉ ra những điều bất lợi, sự nguy hiểm nếu người đó cứ giữ nguyên ý kiến, nhắm mắt hành động. Chú ý ngôn ngữ không nên gay gắt nhưng tỏ ra cương quyết.
8. Tình huống thừa nhận trước để chuyển hướng sau:
Nếu khi bạn không đồng ý với ý kiến của đối phương mà người đó lại là cấp trên, người lớn tuổi, cha mẹ... thì bạn sẽ xử sự như thế nào? Việc thuyết phục để đối phương nghe theo mình, có nghĩa là chấp nhận ý kiến của mình cũng đòi hỏi phải có một nghệ thuật nhất định.
Bạn chớ phản đối và phê phán các ý kiến của đối phương. Bạn hãy tiếp thu ý kiến của họ, biểu thị thái độ đồng cảm ở mức độ nào đó để có thể làm giảm được sự cứng nhắc của đối phương, khiến họ bằng lòng nghe ý kiến của bạn. Song phải nắm vững nguyên tắc không được tỏ thái độ của mình ngang bằng với đối phương để tiếp sau đó dùng lời mà chuyển hướng, thay đổi cách nhìn nhận của đối phương, làm họ bằng lòng tiếp thu ý kiến của bạn.
9. Tình huống cần bạn đồng minh:
Khi tranh luận trước nhiều người cần thể hiện quan điểm, bạn nên chú ý đầy đủ đến thái độ của những người xung quanh, cần động viên được nhiều người nghe và ủng hộ quan điểm của mình. Nếu người nghe ủng hộ ta, đồng tình với quan điểm của ta đang trình bày, sẽ tạo thành một sức mạnh to lớn, một sức ép tinh thần làm đối phương không phản kích lại được.
Chẳng hạn khi đang xếp hàng có người chen ngang, bạn lợi dụng thái độ của số đông mọi người xung quanh để gạt người đó ra khỏi hàng là hợp lý nhất.
10. Tình huống không nhượng bộ khi mình có lý trong tranh luận:
Trong quan hệ giữa người với người, tranh luận là một điều hết sức bình thường và không thể tránh được. Không có tranh luận, điều phải trái không được phân định. Không thể coi tranh luận là một thói xấu mà hạn chế nó.
Song tranh luận có thể dẫn đến sự không thoải mái hoặc đôi khi xung đột. Tranh luận có phương pháp sẽ đem lại kết quả tốt là điều chúng ta cần chú ý học hỏi.
Một là, khi tranh luận nên có thái độ thật công bằng, đừng làm tổn thương đến lòng tự ái của người kia. Sự phê phán, bình phẩm người khác không thể quá một giới hạn nhất định, nếu không có thể làm tăng thêm mâu thuẫn vốn có.
Hai là, giọng nói phải mền mỏng, thật lòng. Trong tranh luận phải tỏ ra tôn trọng nhau, làm sao cho người cùng tranh luận tin rằng tranh luận thật là có ích. Trong tranh luận nhiều khi người thắng không hẳn đã là nhiều lý lẽ biết hùng biện, mà có thể là người có thái độ đúng mực và chân thực nhất.
Ba là, tranh luận phải có mục đích rõ ràng. Tranh luận nên xoay quanh những điều cần giải quyết.
11. Tình huống cần thuyết phục bằng hành động:
"Mọi lý thuyết đều màu xám
Còn cây đời mãi mãi xanh tươi"
(Gơt)
Trong giao tiếp, khi cảm thấy khó thuyết phục người khác nghe ý kiến của mình bằng lời nói, bạn có thể dùng hành động để thuyết phục. Thuyết phục bằng hành động thường hiệu quả lớn nhất. Thông qua việc làm, hành động cụ thể, ta có thể làm cho đối phương thay đổi cách nghĩ, tình cảm, thái độ, chấp nhận ý kiến của ta.
Bạn là một cán bộ phong trào thanh niên. Bạn muốn tổ chức các hoạt động văn hóa thể dục thể thao thanh niên nhưng các cấp lãnh đạo ở địa phương chưa tin tưởng vào khả năng của bạn, chưa tạo điều kiện mọi mặt để bạn làm việc. Bạn đừng nản chí và cũng đừng dùng lời nói để thuyết phục. Hãy cố gắng tạo ra một vài việc làm cụ thể có hiệu quả. Từ sự thành công đã đạt được, tận dụng thời điểm gây hưng phấn cao rồi đưa ra những kiến giải hợp lý với các cấp lãnh đạo.
Như vậy, mục đích và kết quả hoạt động đạt được và mối quan hệ ảnh hưởng của bạn phát triển tốt hơn.
Khi vận dụng phương pháp này bạn cần lưu ý:
Mục đích hoạt động phải rõ ràng, không vụ lợi.
Có kế hoạch hành động chi tiết, tính đến các điều kiện cần và đủ đảm bảo cho sự thành công, bước đầu tiên tránh thất bại.
Tạo dư luận ủng hộ để gây sức ép hoặc quy tụ sức mạnh.
Làm thử để chứng minh, rút kinh nghiệm.
Tạo quan hệ gần gũi tin cẩn.
Nếu ở vào tình huống các bậc "hụ huynh" của người yêu bạn còn chưa tin tưởng và chấp nhận cho bạn yêu con của họ, thì bạn cũng có thể dùng phương pháp này để đạt mục đích.
III. Những điều nên tránh trong giao tiếp ứng xử:
1. Nói nửa chừng rồi dừng lại hoặc cướp lời người đang nói, làm nhiễu thứ tự hoặc luồng suy nghĩ của người đó.
2. Không nói rõ và giải thích đầy đủ làm người nghe cảm thấy đột ngột, khó hiểu đề tài nói chuyện của bạn. Không nên đưa những trọng tâm, những khái quát làm người tiếp chuyện khó theo dõi mạch chuyện.
3. Nói sai đề tài, không quan tâm đến điều mình nói.
4. Nói thao thao bất tuyệt, không ngừng nêu các câu hỏi làm người tiếp chuyện có cảm giác mình yêu cầu hơi nhiều quá.
5. Không trả lời thẳng vào câu hỏi mà người khác nêu ra, quanh co, dài dòng, gây nên cảm giác không trung thực cho người hỏi.
6. Tự cho rằng mọi điều mình đều biết cả.
7. Làm ra vẻ hiểu biết sâu rộng.
8. Phát triển câu chuyện không tập trung vào chủ đề chính làm cho người tiếp chuyện cảm thấy nhàm chán.9. Ngắt bỏ hứng thú nói chuyện của người khác để ép người đó phải chuyển sang nói về đề tài mà bạn thích.
10. Thì thầm với một vài người trong đám đông.
11. Dùng ngôn ngữ quá bóng bảy.
12. Chêm những câu tiếng nước ngoài trong câu nói của mình một cách tùy tiện.
13. Đột ngột cao giọng.
14. Dùng những lời quá suồng sã với mức độ quan hệ.
15. Dùng những từ đệm không cần thiết.
16. Nói với giọng khích bác, chạm vào lòng tự ái của người khác.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)