Tìm kiếm

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2011

Phân tích tình hình tài chính của công ty cổ phần Tasco ( HUT) (p1)


Học viện tài chính

BÀI TIỂU LUẬN:

Đề tài:  “Phân tích tình hình tài chính của công ty cổ phần Tasco ( HUT)”




Họ tên: Nguyễn Thị Minh Trang
Lớp: CQ 46/17.01
Stt :17
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN  TASCO

Xây dựng là một trong những ngành khá quan trọng và nhận được nhiều sự quan tâm của chính phủ, đặc biệt là lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng. Do hiện nay cơ sở hạ tầng của Việt Nam đang được đánh giá là yếu kém, nên trong những năm tới chính phủ sẽ ưu tiên xây dựng các hạng mục cầu đường, giao thông; vì vậy xây dựng sẽ là một ngành đầy tiềm năng.
Công ty cổ phần TASCO tiền thân là DNNN hoạt đông chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng hạ tầng giao thông. Qua thời gian dài phát triển, TASCO đã trở thành một thương hiệu có uy tín, được khẳng định trên thị trường xây dựng nói chung và trong lĩnh vực xây lắp nói riêng. Bên cạnh đó, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng luôn nhận được nhiều sự quan tâm từ phía nhà nước, do vậy công ty có lợi thế trong việc huy động vốn đầu tư và ưu đãi về lãi suất vay.
Hoạt động kinh doanh của HUT trong thời gian qua tăng trưởng khá tốt. Đặc biệt từ năm 2010, những dự án bất động sản đã và đang đầu tư sẽ mang lại nguồn thu lớn cho công ty.

Thông tin cơ bản

  1. Niêm yết
Ngày giao dịch đầu tiên: 11/04/2008
Sàn: HNX
Mã chứng khoán : HUT

Thông tin ngày 10/03/2011:

(*) EPS 4 quý gần nhất(nghìn đồng) :
2086
P/E :
7.1
Giá trị sổ sách /cp(nghìn đồng):
13.16
(**) Hệ số beta :
1.39
KLGD khớp lệnh trung bình 10 phiên:
148,760
KLCP đang lưu hành:
34,997,600
Vốn hóa thị trường(tỷ đồng) :
514.46
Thông tin cơ bản
-Sản phẩm chính Xây dựng
-Vốn điều lệ (tỷ VNĐ) : 135
-Sở hữu nước ngoài (%)  : 0.0
-Sở hữu nhà nước (%)   : 13.0
-Tỷ lệ HĐQT và BKS (%) :  22.1


Logo của công ty

Tiền thân là DNNN hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xây lắp hạ tầng.
Xây lắp hiện đang là lĩnh vực chính của HUT, chiếm hơn 90% trong cơ cấu doanh thu năm 2009.

  1. Lĩnh vực hoạt động:

Xây lắp: Đi cùng với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, nhu cầu xây dựng hạ tầng là rất lớn để đáp ứng tốc độ phát triển kinh tế của nước ta hiện nay. Chính vì vậy, khối lượng hợp đồng ký kết của HUT ngày càng nhiều với giá trị hợp đồng ngày càng tăng. Năm 2009, tổng giá trị xây lắp của HUT đạt 545 tỉ đồng, năm 2010 có thể đạt hơn 726 tỷ đồng và tăng 33.2% so với năm 2009. (Phụ lục: Tổng hợp nguồn thu dự kiến của HUT).

Bất động sản: Trước năm 2009, doanh thu từ bất động sản chỉ chiếm 3% -5% trong cơ cấu doanh thu. Từ năm 2010, nằm trong chiến lược phát triển của công ty, trong các năm  tới, TASCO phấn đấu đưa lĩnh vực kinh doanh bất động sản là một trong các lĩnh vực chính. Ngoài việc mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, lĩnh vực này còn hỗ trợ cho mảng xây lắp và các lĩnh vực hoạt động khác của TASCO cùng phát triển. Hiện tại Công ty đang triển khai những dự án rất khả thi nhằm tạo cơ sở phát triển bền vững và lâu dài trong tương lai như các dự án: Khu văn phòng Pháp Vân, Chung cư Vân Canh,Đơn vị ở 2 & 3 Khu đô thị mới Xuân Phương...
Năm 2010, theo dự phóng của chúng tôi doanh thu từ bất động sản có thể chiếm gần 30% doanh thu. Đóng góp chính cho mảng này trong năm 2010 chủ yếu từ bán đất nền tại khu đơn vị ở 2 & 3 khu đô thị mới Xuân Phương và bán căn hộ khu chung cư Vân Canh...

3. Chiến lược phát triển trong tương lai:

- Tiếp tục giữ vững và tăng trưởng mạnh thị trường truyền thống là thầu xây dựng các công trình hạ tầng giao thông, thủy lợi và xây dựng dân dụng có giá trị lớn; nâng cao năng lực cạnh tranh, đặc biệt trong công nghệ xây cầu.
- Năm 2010 – 2012: thực hiện đầu tư và kinh doanh bất động sản; tập trung đầu tư vào các dự án khu đô thị mới, nhà ở, trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê trung cấp và cao cấp, các dự án nhà ở xã hội.
- Đến năm 2012- 2015: trở thành nhà đầu tư tài chính, hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con. Đối với các dự án lớn Công ty sẽ đầu tư tài chính, góp vốn thành lập Công ty con để thực hiện.
- Đến năm 2020, trở thành nhà đầu tư lớn mạnh, có đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn lớn cũng như các nhà đầu tư nước ngoài tại VN trong lĩnh vực xây  dựng.

Cơ cấu doanh thu:



PHÂN TÍCH CẠNH TRANH































           I.      Phân tích năng lực cạnh tranh

Tasco phụ thuộc khá nhiều vào nguồn cung cấp nguyên vật liệu
Giá cả các nguyên vật liệu đầu vào như xi măng, sắt thép,... biến động bất thường khiến cho các công ty xây dựng trong nước gặp khó khăn về hoạt động kinh doanh từ đó dẫn đến bị động trong việc thực hiện các hợp đồng của mình. Đây là một trong những điểm yếu của HUT khi chưa có chính sách quản trị nguồn nguyên vật liệu.

Khách hàng chính của HUT chủ yếu là các đơn vị trực thuộc nhà nước HUT tiền thân là một doanh nghiệp nhà nước nên có lợi thế khá lớn trong việc tiếp cận và kí kết hợp đồng với các đơn vị hành chính quốc gia, khách hàng chính của HUT chủ yếu là các đơn vị trực thuộc nhà nước. Nhờ vào lợi thế đó và yếu tố quyết định là chất lượng các công trình được đánh giá cao,HUT ngày càng nhận được thêm nhiều hợp đồng lớn.

·         Rào cản gia nhập ngành:
Rào cản gia nhập ngành xây dựng lớn.
Ngành xây dựng đòi hỏi phải có chuyên môn cũng như các thiết bị máy móc đặc biệt, nên cho dù các doanh nghiệp trong ngành khá nhiều nhưng chi phí chuyển đổi giữa các lĩnh vực là khá cao, đặc biệt là xây dựng hạ tầng đòi hỏi nhiều yếu tố từ vốn, công nghệ đến uy tín doanh nghiệp...

·         Sản phẩm thay thế :
Rủi ro từ sản phẩm thay thế trong ngành xây dựng cơ sở hạ tầng hầu như là không có bởi tính đặc thù riêng của ngành.
Dự kiến từ nay đến năm 2020, nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng là rất lớn,Chính phủ đang thực hiện nhiều chính sách để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng. Vì vậy, HUT và các doanh nghiệp trong ngành hầu như không chịu ảnh hưởng từ yếu tố này.

·         Mức độ cạnh tranh:

Do đặc điểm ngành xây dựng ở Việt Nam là phân tán, mức độ chi phối thị trường hiện nay của các doanh nghiệp là chưa có. Hiện nay doanh nghiệp trong ngành xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng (không bao gồm: xây dựng nhà các loại) có đến hơn 48 công ty trên 2 sàn chứng khoán, tuy nhiên tổng vốn điều lệ chỉ hơn 3,066 tỉ, trung bình vốn điều lệ của doanh nghiệp trong ngành khoảng 60.3 tỉ, chỉ có 3 mã có vốn điều lệ hơn 200 tỷ là HUT,SD9 & SDU, tiềm năng của các đối thủ trên thị trường chưa mạnh.Hơn nữa ngành xây dựng ở Việt Nam còn khá non trẻ, thị trường rộng lớn nhu cầu xây lắp ngày càng tăng, nên sẽ có nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp trong ngành.

Tuy nhiên, trong ngành xây dựng, giá thầu là một trong những yếu tố then chốt quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Doanh nghiệp vừa phải xác định một mức giá thầu hợp lý để có thể tạo ra lợi nhuận, đồng thời cũng phải đảm bảo mức giá đưa ra phù hợp để có khả năng trúng thầu cao. Thông thường, giá các gói thầu có sự chênh lệch rất ít. Vì vậy, có thể nói đây là khó khăn chung mà tất cả các DN ngành này đều phải đối mặt.

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2011

Special, especial, particular



Ba từ special, especial, particular có sự khác nhau về mặt ý nghĩa và cách sử dụng.

Special là một tính từ thường gặp, dùng để chỉ những vật, sự việc, con người có đặc điểm hay tính chất khác biệt so với những vật, sự việc, người khác. Khi dùng tính từ special, người nói muốn nhấn mạnh đến sự khác biệt so với những cái bình thường, thông thường khác (distinguished).

You're a very special person in my life - never forget that. (Đừng bao giờ quên rằng em là một người rất đặc biệt trong cuộc đời anh). à người nói muốn nhấn mạnh “em” chứ không phải là một người nào khác
On special occasions we have wine with our meal, but certainly not everyday. (Trong những dịp đặc biệt, chúng tôi mới uống rượu trong bữa ăn chứ không phải ngày nào cũng thế). à người nói muốn nhấn mạnh đến những dịp đặc biệt như lễ, tết, Noel, v.v chứ không phải là những bữa ăn thông thường hàng ngày

Especial ít được sử dụng hơn, chỉ trường hợp nổi trội, đáng chú ý hơn hẳn khi được so sánh với những trường hợp khác. Hiện nay, especial chỉ được dùng với một số danh từ như value, interest. Especial thường để nhấn mạnh sự ngoại lệ (exceptional).


The Koh-i-noor diamond, now among the British crown jewels, has especial value as its history dates back to the 14th Century. (Viên kim cương Koh-i-noor trong bộ sưu tập trang sức của hoàng gia Anh có giá trị đặc biệt vì nó có xuất xứ từ thế kỷ 14). Như vậy, so với các viên kim cương khác, viên kim cương Koh-i-noor có giá trị vượt trội nhờ có xuất xứ lâu đời của nó

The lecture will be of especial interest to history students. (Bài giảng này sẽ đặc biệt thu hút những sinh viên lịch sử). Điều này có nghĩa là những sinh viên học môn lịch sử sẽ cảm thấy hứng thú với bài giảng này hơn hẳn so với những sinh viên học môn khác

As an only child, she got especial attention. (Là con một nên cô bé nhận được sự quan tâm đặc biệt).  So với những đứa trẻ khác thì cô bé nhận được sự quan tâm đặc biệt hơn vì cô bé là con một

Thường thì người ta hay nhầm lẫn giữa hai tính từ especial và special vì chúng có ý nghĩa hơi giống nhau, đều chỉ sự đặc biệt nhưng particular lại mang môt ý nghĩa hoàn toàn khác. Particular cũng là một tính từ thường gặp, dùng để chỉ những cá nhân, sự vật, sự việc cụ thể, chi tiết. Tính từ này nhấn mạnh vào sự cụ thể (specific) chứ không phải sự chung chung (general).

There is one particular patient I’d like you to see. (Tôi muốn anh khám cho một bệnh nhân đặc biệt này).
Is there any particular type of book he enjoys? (Anh ấy có thích đọc cụ thể một loại sách nào không?)

Ba tính từ này tuy có ý nghĩa và cách sử dụng khác nhau nhưng hai phó từ especially và particularly lại có cùng ý nghĩa “đặc biệt hơn tất cả” (above all) và được dùng nhằm mục đích nhấn mạnh. Hai phó từ này cũng đồng nghĩa với thành ngữ in particular.

These butterflies are noticeable in April and May, especially in these meadows. (Loài bướm này có nhiều vào tháng 4 và tháng 5, nhất là trên các đồng cỏ).

You'll enjoy playing tennis at our local club, especially on weekdays when it's not so busy. (Bạn sẽ thích chơi tennis ở câu lạc bộ của chúng tôi, nhất là vào các dịp cuối tuần khi mà câu lạc bộ không đông người chơi lắm).

The road between Cairo and Alexandria is particularly dangerous at night. (Con đường nối Cairo và Alexandra đặc biệt nguy hiểm vào ban đêm).

He loves science fiction in particular. (Anh ấy thích nhất là truyện khoa học viễn tưởng).

Còn phó từ specially lại có ý nghĩa là “dành riêng cho một đối tượng cụ thể”. Phó từ này được dùng trong trường hợp muốn nhấn mạnh “một mục đích cụ thể”.

This shower gel is specially designed for people with sensitive skins. (Dầu gội này dành riêng cho những người có da đầu nhạy cảm).

This computer programme is specially designed for children with learning difficulties. (Chương trình máy tính này được lập trình riêng cho những trẻ em gặp khó khăn trong học tập).
My father made this model aeroplane specially for me. (Bố tôi làm chiếc máy bay mô hình này riêng cho tôi).

Phân biệt ba từ này cũng không quá khó phải không bạn? Hy vọng sau bài viết này, bạn sẽ không còn lúng túng mỗi khi phải sử dụng những từ này nữa!

Những từ viết tắt thông dụng trong Email



Email ngày nay đã trở nên một trong những phương thức giao tiếp quốc tế được ưa thích nhất vì tính kinh tế và sự nhanh chóng của chúng. Và để làm tăng thêm sự nhanh chóng này, những người sử dụng email bằng riếng Anh đã mặc sức tạo ra vô số những cách rút gọn, viết tắt, dùng từ đồng âm vv, đôi khi hết sức bí hiểm đối với người đọc chưa có kinh nghiệm. Sự bí hiểm này nhiều khi là cố ý, nhất là trong các email gửi cho bạn bè thân thiết, để trêu chọc và thử trí thông minh của người đọc chút xíu! Dưới đây là một bản sơ kết những cách viết tắt thông dụng trong email tiếng Anh. Bạn hãy thử đọc xem có thấy khâm phục sự dí dỏm của các tác giả của chúng không?

Viết tắt kèm số


Một trong những cách viết tắt rất được ưa thích trong email tiếng Anh là dùng số, hoặc hoàn toàn (như 121 = one to one, tức "tay đôi"), hoặc thưỡng xuyên hơn là dùng chen vào các mẫu tự để tạo ra một chuỗi ký tự trong bí hiểm như một mật mã hay một công

thức toán học (như m8 = mate). Các số hay được dùng là 1, 2, 4, 8 mà trong đó các số 1, 2, 4 thường được dùng thay thế cho một từ (one, two/to/too, và four/for), còn 8 thì dùng thay cho một phần của từ (như w8 = w+eight tức weight hoặc wait; hoặc l8r = l+eight+r = later - quả là nghịch ngợm hết chỗ nói phải không?) Sau đây là một số từ hay gặp và nghĩa của chúng.

121 = one to one
2u = to you
2u2 = to you too
b4 = before
b4n = bye for now cul8r = see you later
f2f = face to face
g2g = got to go
h2 = how to
gr8 = great/grate ilu2 = I love you too
ily4e = I love you forever
m8 = mate
l8r = later
w8 = wait/weight
w8ing = waiting

Ghép thành từ mới

Một cách viết tắt khác rất hay được dùng trong email tiếng Anh là viết tắt các cụm từ sao cho chúng tạo thành một từ mới có thể phát âm được (tức có cả phụ âm lẫn nguyên âm để có thể tạo thành âm tiết). Chắc các bạn đã quen với các "từ" viết tắt (vốn dĩ là cả một cụm từ) như VIP (very important person), WHO (World Health Organisation), TOEFL (đọc thành "toe-fol", viết tắt của cụm từ Test of English as a Foreign Language), hoặc ASAP (as soon as possible) vv. Trong thời email thịnh hành ngày nay, chúng ta có thêm vô số "từ" viết tắt mới khiến nhiều khi nhìn vào một bức email ta cứ nghi ngờ không biết có phải đúng là tiếng Anh không. Vâng, mời các bạn thử thưởng thức vài món độc chiêu dưới đây:

aka = also known as
bil = brother-in-law
bion = believe it or not
bol = best of luck
eta = estimated time of arrival
fil = father-in-law
foaf = friend of a friend
ga = go ahead
gigo = garbage in garbage out
gowi = get on with it
hand = have a nice day ilu = I love you
ily = I love you
ime = in my experience
imo = in my opinion
inpo = in no particular order
iwik = I wish I knew
jam = just a minute
jit = just in time
kiss = keep it simple stupid
kol = kiss on lips
may = mad about you mil = mother-in-law
nyp = not your problem
pest = please excuse slow typing
rumf = are you male or female?
sah = stay at home
sil = sister-in-law
sit = stay in touch
sot = short of time
sul = see you later
syl = see you later

Dùng mẫu tự đồng âm thay cho từ

Tận dụng tính đồng âm của từ là nguyên tắc chính trong các viết tắt đùa nghịch trong email tiếng Anh. Một số từ tiếng Anh đồng âm với tên các mẫu tự trong alphabet, và các mẫu tự này luôn được tận dụng trong email. Chúng không nhiều nên thật ra không thật sự gây khó khăn cho người đọc, nhưng nếu ai đó mất cảnh giác không chú ý thì chúng cũng tạo ra được những bất ngờ thú vị.

b = be/bee
c = see/sea
i = I/eye
cu = see you ic = I see
iou = I owe you
q = queue
k = okay
r = are
t = tea
u = you/ewe
uok = you okay?

Ghép các mẫu tự đầu từ của cụm từ

Ðây là quy tắc viết tắt thông dụng của tiếng Anh, một ngôn ngữ luôn luôn nhắm đến tính tiết kiệm và hiệu quả trong giao tiếp. Trong email cách viết tắt này được dùng hết sức thoải mái, gần như là ai thích viết tắt cụm từ nào thì cứ việc chỉ dùng các mẫu tự đầu từ thôi, khiến cho người đọc nhiều khi điên đầu không biết chữ viết tắt có nghĩa gì (và hẳn là người gửi sẽ hết sức thích thú khi thấy người nhận email phải điên đầu với những sản phẩm sáng tạo của mình). Chú ý rằng nhiều khi các từ viết tắt kiểu này còn xen thêm một vài cách viết tắt đã nêu ở trên (chẳng hạn dùng mẫu tự đồng âm) khiến cho chúng càng thêm bí hiểm (như cụm ducwic= do you see what I see?) Nhưng bạn yên tâm, những từ viết tắt này chỉ là những cụm từ mang tính ước lệ hoàn toàn có thể đoán được nếu chú ý kỹ ngữ cảnh xung quanh, và thường chỉ mang nghĩa xã giao, chào hỏi, những nhận xét bên lề, những lời đùa giỡn, chứ không mang thông tin gì quan trọng. Sau đây là một số cụm thông dụng:

aamof = as a matter of fact
afaict = as far as I can tell
aiui = as I understand it
atb = all the best
bbfn = bye bye for now
bbiam = be back in a minute
bbl = be back later
btaicbw = but then again I could be wrong
bttp = back to the point
cmiiw = correct me if I'm wrong
cwyl = chat with you later
damhik = don't ask me how I know
dtrt = do the right thing
dttah = don't try this at home
ducwic = do you see what I see? dwisnwid = do what I say not what I do
ftbomh = from the bottom of my heart
fya = for your amusement
fyi = for your information
gfn = gone for now
gg = got to go
gl = good luck
gtg = got to go
gtgn = got to go now
hhok = ha ha only kidding
hoas = hold on a second
hth = hope this helps
iccl = I couldn't care less
ikwum = I know what you mean
iykwim = if you know what I mean iyswim = if you see what I mean
nmp = not my problem
noyb = none of your business
tafn = that's all for now
tc = take care
tia = thanks in advance
tlc = tender loving care
tmiktliu = the more I know the less I understand
ttbomk = to the best of my knowledge
ttul = talk to you later
ttyl = talk to you later
twimc = to whom it may concern
vh = virtual hug
wdymbt = what do you mean by that?
yhbw = you have been warned

Thế nào, bí hiểm nhưng dí dỏm và thú vị quá phải không các bạn? Vâng, bài viết này là fyi và fya, nhưng ... gtgn, so bbfn, cwyl, và gl. Hy vọng bạn đang không hỏi wdymbt, nhưng nếu bạn có đang hỏi thì nmp, nên iccl, yhbw! Hhok!!!

Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2011

Trông anh...

Em trông anh, lặng lẽ,chiều cuối đông
mưa lất phất,vấn vương làn tóc rối
1 góc quán,ly cà phê mê mộng
ánh mắt nhìn,thổn thức,tiếng gọi anh

giây phút chờ,những kí ức mong manh
đồng hồ quay,dồn bước chân hối hả
1 dấu lặng xen dòng đời vội vã
được bên anh em sống chậm 1 ngày...

1 nỗi buồn mơn man trong lòng em.em buồn ko hiểu vì sao lại buồn.1 ngày cuối xuân,1 ngày héo úa trong cái mơn mởn của trời xuân ấy...
như tia nắng cuối trời nhạt nhòa...
cần 1 điểm tựa.1 điểm vững chắc.1 bờ vai để em có thể gục trên đó mà khóc....
vẫn chờ anh...vẫn đợi anh...
những mệt nhoài đã vướng chân em,em như bị xô đẩy trong cuộc sống hối hả....
giây phút chờ có phải lại là giây phút hạnh phúc nhất,khi mà con ng ta có thể ngồi lặng để ngắm nhìn thời gian trôi,để thấy dòng người vọt qua đông đúc ,để thấy mây lững lờ trên cái nền xanh hờ hững đó....
và để ta có thể sống  chậm 1 ngày....

viết những dòng vô định...ko hiểu nổi m đang viết cái j nữa.lủng củng...vô nghĩa...kệ...mặc kệ...vì ta thik.đơn giản vì ta thik...

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2011

Mô hình chiết khấu cổ tức (Dividend Discount Model_DDM)


 
Mô hình chiết khấu cổ tức là một mô hình tương đối tốt để định giá cổ phần. Lý thuyết này phát biểu rằng giá trị cổ phần của một công ty là giá trị của toàn bộ dòng tiền tương lai mà bạn kì vọng một doanh nghiệp tạo ra sau khi đã được điều chỉnh bằng một tỉ lệ chiết khấu hợp lý. công thức tính như sau:
ddm.gif
Trong đó
Value of stock : giá trị cổ phần
Dividend per share : cổ tức trên một cổ phần
Discount rate: tỉ lệ chiết khấu
Divident growth rate: tốc độ tăng cổ tức.
Vấn đề cốt lõi trong lý thuyết này đó là cổ phần của bất cứ công ty nào cũng có trị  giá không vượt quá những khoản cổ tức mà nó sẽ đem lại cho nhà đầu tư trong hiện tại và tương lai. Theo lý thuyết DDM, cổ tức là dòng tiền mà các cổ đông sẽ thu về trong tương lai, tất nhiên là có tính tới giá trị của tiền tệ theo thời gian. Để đánh giá một công ty thông qua việc sử dụng mô hình DDM, bạn cần phải tính giá trị khoản cổ tức mà công ty sẽ trả trong năm tới. Có nhiều mô hình chiết khấu cổ tức trong đó có hai loại chính là mô hình cổ tức không tăng trưởng và mô hình cổ tức tăng theo thời gian.
Xét một ví dụ đơn giản: giả sử rằng một công ty trả cổ tức 1$/năm, bạn sẽ tự hỏi rằng liệu bạn có sẵn sàng mua cổ phiếu của công ty này không? Giả sử rằng tỉ lệ thu nhập kì vọng là 5%, khi đó theo mô hình DDM có tốc độ tăng cổ tức bằng 0, giá trị của doanh nghiệp này là 1/5% = 20$
Khiếm khuyết trong mô hình 1là ở chỗ khi tiến hành đầu tư vào một doanh nghiệp, bao giờ nhà đầu tư cũng hi vọng rằng doanh nghiệp này sẽ tăng trưởng qua thời gian. Nếu nhà đầu tư cũng suy nghĩ như vậy trong trường hợp trên thì mẫu số sẽ tương đương với hiệu số của tỉ lệ thu nhập kì vọng và tốc độ tăng trưởng của cổ tức. Giả sử rằng tốc độ tăng cổ tức là 3% một năm, khi đó giá trị của công ty sẽ là 1/ (5%-3%) = 50$.
Mô hình DDM cổ điển này thường phát huy tác dụng tốt nhất khi được sử dụng để đánh giá các công ty mạnh, có mức trả cổ tức cao. Những người ủng hộ lý thuyết này thì cho rằng chỉ có lượng cổ tức trong tương lai mới có thể cho bạn những đánh giá đúng đắn về giá trị nội tại của doanh nghiệp. Mua cổ phần với bất kì lý do gì, ví dụ mua với mức giá cao hơn 20 lần so với thu nhập có thể kiếm được từ công ty vì tin rằng hôm sau sẽ có người mua lại với giá gấp 30 lần thì chỉ đơn thuần là một sự đầu cơ.
Trên thực tế, mô hình DDM đòi hỏi một sự nghiên cứu tỉ mỉ để có thể dự đoán được mức cổ tức trong tương lai. Thậm chí khi bạn áp dụng mô hình này với công ty trả cổ tức đều đặn, thường xuyên, bạn vẫn cần đưa ra rất nhiều giả thuyết về hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Trong đó giả định lớn nhất trong mô hình DDM là giả định rằng cổ tức của doanh nghiệp là tương đối ổn định, không tăng hoặc tăng đều. Thêm vào đó các yếu tố đầu vào để tính toán giá trị thì thường xuyên thay đổi và tiềm ẩn những sai số. Tuy nhiên, ngay cả đối với các cổ phần đáng tin cậy, ổn định, thì việc dự đoán chính xác việc trả cổ tức trong các năm tới cũng là công việc vô cùng khó khăn.